vanban.org

Bản án 76/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 6, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 15/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Xuân C phạm tội: «Tàng trữ trái phép chất ma túy».

Xử phạt bị cáo Trần Xuân C 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/9/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tuyên bố bị cáo Trần Xuân C phạm tội: «Tàng trữ trái phép chất ma túy» - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Xuân C phạm tội: «Tàng trữ trái phép chất ma túy».
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2021/HS-ST
Ngày: 15/12/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Liên.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lương Thị Cúc

Ông Trần Đức Nhì.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Đức - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Nhẫm - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 82/2021/TLST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2021/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:

Trần Xuân C; Sinh ngày: 09/7/1984; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: 354/46 đường LTK, Phường N, Quận J, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn N và bà: Lê Thị Bạch T; Có vợ: Là bà Nguyễn Thị Ngọc Y và con: Có 02 người con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2021; Tiền án: Không; Bị bắt, tạm giam ngày 01/9/2021.

Tiền sự: Ngày 23/10/2018, bị Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở Cai nghiện bắt buộc 18 tháng về hành vi sử dụng chất ma túy (Quyết định số: 467/QĐ-TA). Chấp hành xong ngày 24/02/2020 (Giấy chứng nhận số: 25/GCN-CSPV ngày 06/01/2020 của Cơ sở cai nghiện ma túy Phú Văn).

Nhân thân: Ngày 08/7/2004, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm tính từ ngày tuyên án về tội «Cướp giật tài sản» (Bản án số: 1073/HSST). Đã thi hành xong phần án phí (Công văn trả lời xác minh số: 113/CV-CCTHA ngày 29/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh).

(bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Lâm Thanh N; Sinh năm: 1982; Thường trú: 397/10 đường LQS, Phường I, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

(vắng mặt)

2. Ông Trần Minh Q; Sinh năm: 1998; Thường trú: 6A đường PHC, phường TL, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Tạm trú: 33 đường NHT, phường TH, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 01/9/2021, tổ công tác thuộc Công an Quận 6 trên đường tuần tra phát hiện Trần Xuân C đang điều khiển xe gắn máy biển số 59L2-341.96 chở Lâm Thanh N chạy đến trước nhà số 52 đường THĐ, Phường N, Quận F có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, tổ công tác đã thu giữ trong túi đeo trước ngực của C 01 gói nylon chứa tinh thể không màu và 02 gói nylon chứa chất bột màu trắng (C khai là ma túy đá và Heroine), nên đã giao C, N cùng vật chứng nêu trên cho Cơ quan điều tra Công an Quận 6 giải quyết.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Xuân C khai: C sử dụng ma túy được khoảng 07 năm. Khoảng 13 giờ ngày 01/9/2021, C điều khiển xe gắn máy biển số 59L2-341.96 đến cầu số 1 thuộc Phường 14, Quận 8 gặp một người thanh niên tên Long (không rõ lai lịch) mua 01 gói ma túy đá và 02 gói Heroine với giá 750.000 đồng. Sau khi cất 03 gói ma túy vào trong túi đeo trước ngực, C điều khiển xe chạy đến nhà của Lâm Thanh N tại số 397/10 đường LQS, Phường I, Quận F rủ N đi sửa điện thoại, nhưng do cửa hàng điện thoại đóng cửa nên C chở N quay về và khi cả hai chạy đến trước nhà số 52 đường Tân Hòa Đông thì bị kiểm tra bắt giữ như nêu trên.

Lâm Thanh N khai không biết việc Trần Xuân C mua và cất giữ ma túy trong người như thế nào. Cơ quan điều tra tiến hành cho Trần Xuân C đối chất với Lâm Thanh N, cả hai đều xác nhận N không hùn tiền với C mua ma túy cũng như N không biết việc C có đem theo ma túy và cất giữ ma túy trong người.

Theo Biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 01 tháng 9 năm 2021 của Trạm y tế Phường 14, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh thì Trần Xuân C dương tính với Amphetamine và Heroine.

Tại Kết luận giám định số: 4881/KLGĐ-H ngày 09 tháng 9 năm 2021, Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận: 01 gói được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Minh Tấn (Điều tra viên), Lê D (người chứng kiến), Trần Xuân C và hình dấu Công an Phường 14, Quận 6, bên trong có:

- Tinh thể không màu trong 01 gói nylon cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2070g (không phẩy hai không bảy không gam), loại Methamphetamine.

- Bột màu trắng trong 02 gói nylon cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,8654g (không phẩy tám sáu năm bốn gam), loại Heroine.

Đối với Lâm Thanh N, do không liên quan đến hành vi phạm tội của Trần Xuân C, nên không truy cứu trách nhiệm hình sự. Còn người thanh niên tên Long bán ma túy cho Trần Xuân C ở khu vực cầu số 1, Phường 14, Quận 8, Cơ quan điều tra không xác định được lai lịch.

Tại Cáo trạng số: 66/CT-VKS-Q6 ngày 09 tháng 11 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Xuân C về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Bị cáo Trần Xuân C khai nhận chính bị cáo, đã thực hiện hành vi mua 03 gói ma túy (01 gói ma túy đá, 02 gói Heroine) với giá 750.000 đồng từ một người thanh niên tên Long (không rõ lai lịch) ở khu vực cầu số 1, Phường 14, Quận 8 vào trưa ngày 01/9/2021 để sử dụng và bị Công an phát hiện bắt quả tang vào lúc 14 giờ cùng ngày tại trước nhà số 52 đường THĐ, Phường N, Quận F như nội dung bản cáo trạng nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Xuân C như bản cáo trạng và sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Phạt bị cáo Trần Xuân C từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» theo điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Không phạt tiền đối với bị cáo, do bị cáo không có khả năng thi hành.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy: 01 gói bên ngoài có ghi vụ số: 4881/21, có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên Phan Tấn Q và cán bộ điều tra Bùi Thành Phương. Bên trong có: Tinh thể không màu có khối lượng 0,1524 gam và bột màu trắng có tổng khối lượng 0,8166 gam (mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định); 01 túi xách màu đen; 01 biển số xe 59L2-341.96.

Trả lại bị cáo Trần Xuân C 01 chiếc điện thoại di động màu xanh dương, mặt trước và mặt sau có ghi chữ Redmi loại Note 8, số Imei 1: 869722040184631, số Imei 2: 869722040714635 (bên trong điện thoại có 01 sim điện thoại số xxxxxxxxxx), đã được niêm phong, có các chữ ký ghi tên Mai Trọng Tân (Điều tra viên), Bùi Thành Phương (cán bộ điều tra), Trần Xuân C, hình dấu Cơ quan điều tra Công an Quận 6 và số tiền 500.000 đồng.

Còn các vật chứng khác, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 đã xử lý xong, nên không đề nghị xử lý.

Lời nói sau cùng, bị cáo Trần Xuân C nhận thức được hành vi của bị cáo là sai, là vi phạm pháp luật nên không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình, có cơ hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối chiếu lời khai của bị cáo Trần Xuân C tại phiên tòa với Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; Kết luận giám định; lời khai của Lâm Thanh N và của người làm chứng tại Cơ quan điều tra cùng những tài liệu, chứng cứ, lời khai khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Xuân C đã phạm tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy». Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 2015).

Bị cáo Trần Xuân C đã cất giữ 0,2070 gam ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine và 0,8654 gam ma túy ở thể rắn, loại Heroine (toàn bộ số ma túy này bị cáo xác nhận là của bị cáo mua và cất giữ nhằm mục đích sử dụng). Căn cứ Điều 4 Nghị định số: 19/2018/NĐ-CP ngày 02 tháng 02 năm 2018 của Chính phủ thì tổng khối lượng của 02 chất ma túy (Methamphetamine, Heroine) mà bị cáo Trần Xuân C cất giữ nhằm mục đích sử dụng là 1,0724 gam. Đối chiếu tổng khối lượng của 02 chất ma túy (Methamphetamine, Heroine) với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 thì trong trường hợp này tổng khối lượng của 02 chất ma túy trên tương đương với khối lượng Methamphetamine, Heroine được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 truy tố bị cáo về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» thuộc trường hợp «Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này» theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

Hành vi của bị cáo Trần Xuân C không những đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về chế độ quản lý, trao đổi, cất giữ chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an chung.

Bị cáo Trần Xuân C là người đã trưởng thành, bị cáo hoàn toàn nhận thức được tác hại của ma túy, nhận thức được hành vi cất giữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật, nhưng để thỏa mãn lối sống không lành mạnh và nhất là xem thường pháp luật, nên bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.

Bản thân bị cáo Trần Xuân C, ngày 23/10/2018 bị Tòa án nhân dân Quận 8 quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở Cai nghiện bắt buộc 18 tháng về hành vi sử dụng chất ma túy. Ngoài ra, bị cáo còn có nhân thân xấu, đó là ngày 08/7/2004 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm tính từ ngày tuyên án về tội «Cướp giật tài sản». Lẽ ra bị cáo phải biết rèn luyện, tu dưỡng để trở thành người có ích cho gia đình và cho xã hội, nhưng ngược lại, vẫn tiếp tục sống buông thả và phạm tội.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Trần Xuân C là nghiêm trọng. Mặt khác, ma túy nói chung và các chất ma túy ở thể rắn như Methamphetamine, Heroine nói riêng là chất gây nghiện độc hại, việc sử dụng ma túy đã gây tác hại rất lớn và ảnh hưởng rất xấu đến sức khỏe, làm mất khả năng lao động, học tập của chính người sử dụng và đây cũng chính là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, do đó Hội đồng xét xử thấy cần phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và để phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều có thái độ thành khẩn khai báo, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Những nhận định trên cũng là căn cứ để chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 thì bị cáo Trần Xuân C còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo phạm tội không vụ lợi, là lao động tự do, không có thu nhập, điều kiện kinh tế còn khó khăn. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Việc xử lý vật chứng: 01 gói bên ngoài có ghi vụ số: 4881/21, có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên Phan Tấn Q và cán bộ điều tra Bùi Thành Phương. Bên trong có: Tinh thể không màu có khối lượng 0,1524 gam và bột màu trắng có tổng khối lượng 0,8166 gam (mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định); 01 túi xách màu đen, là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, vật không có giá trị hoặc không sử dụng được, nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Đối với chiếc xe gắn máy có số khung RLCUG0610GY305134, số máy G3D4E320241 (loại xe hai bánh từ 50-175cm3, nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, sơn màu Trắng Đỏ, dung tích 150) mà bị cáo Trần Xuân C sử dụng làm phương tiện phạm tội, là vật chứng trong vụ án trộm cắp tài sản xảy ra trên địa bàn phường Tân Hưng, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, nên Cơ quan điều tra Công an Quận 6 đã thông báo đến Cơ quan điều tra Công an Quận 7, đồng thời lập thủ tục chuyển chiếc xe nói trên cho Cơ quan điều tra Công an Quận 7 giải quyết theo thẩm quyền (theo Công văn số: 3058/ĐCSMT ngày 02/11/2021 và Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26/11/2021 của Công an Quận 6), do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Riêng biển số xe 59L2-341.96, theo Phiếu trả lời xác minh số: 2901 ngày 10/9/2021 của Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh (BL87), là biển số của chiếc xe gắn máy có số khung: RLHJA3613EY140717, số máy: JA36E0267043 (loại xe hai bánh từ 50-175cm3, nhãn hiệu Honda, số loại Blade, sơn màu Đen, dung tích 109), do ông Trương Anh D, trú tại 154/136/24 đường ÂDL, Phường C, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ xe (không phải là biển số của chiếc xe thu giữ của bị cáo Trần Xuân C), nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động màu xanh dương, mặt trước và mặt sau có ghi chữ Redmi loại Note 8, số Imei 1: 869722040184631, số Imei 2: 869722040714635 (bên trong điện thoại có 01 sim điện thoại số xxxxxxxxxx), đã được niêm phong, có các chữ ký ghi tên Mai Trọng Tân (Điều tra viên), Bùi Thành Phương (cán bộ điều tra), Trần Xuân C và hình dấu Cơ quan điều tra Công an Quận 6 và số tiền 500.000 đồng thu giữ của bị cáo Trần Xuân C. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị trả lại cho bị cáo vì không đủ căn cứ xác định do bị cáo phạm tội mà có hay bị cáo đã hoặc sẽ dùng vào việc phạm tội. Xét đề nghị của Viện kiểm sát là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

(theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 88/PNK ngày 03 tháng 11 năm 2021, Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 15 tháng 10 năm 2021 và Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10 tháng 11 năm 2021 của Công an Quận 6; Quyết định chuyển vật chứng số: 63/QĐ-VKS-Q6 ngày 09 tháng 11 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 6)

Đối với Lâm Thanh N, Viện kiểm sát xác định không đủ cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với N về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với vai trò đồng phạm. Còn hành vi sử dụng chất ma túy của Lâm Thanh N thì ngày 01/9/2021, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường 14, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định đưa vào Cơ sở Xã hội Nhị Xuân để quản lý, cắt cơn, giải độc, phục hồi sức khỏe và tư vấn tâm lý trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (Quyết định số: 09/QĐ-UBND), do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Còn người thanh niên tên Long bán ma túy cho bị cáo Trần Xuân C, do bị cáo khai không rõ nhân thân lai lịch, nên không có cơ sở điều tra làm rõ, do đó Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

Bị cáo Trần Xuân C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố bị cáo Trần Xuân C phạm tội: «Tàng trữ trái phép chất ma túy».

- Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Trần Xuân C 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 01/9/2021.

- Căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) gói bên ngoài có ghi vụ số: 4881/21, có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên Phan Tấn Q và cán bộ điều tra Bùi Thành Phương. Bên trong có: Tinh thể không màu có khối lượng 0,1524 (không phẩy một năm hai bốn) gam; bột màu trắng có tổng khối lượng 0,8166 (không phẩy tám một sáu sáu) gam; 01 (một) túi xách màu đen; 01 (một) biển số xe 59L2-341.96.

- Căn cứ khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Trả lại bị cáo Trần Xuân C 01 (một) chiếc điện thoại di động màu xanh dương, mặt trước và mặt sau có ghi chữ Redmi loại Note 8, số Imei 1: 869722040184631, số Imei 2: 869722040714635; 01 (một) sim điện thoại số xxxxxxxxxx, đã được niêm phong, có các chữ ký ghi tên Mai Trọng Tân (Điều tra viên), Bùi Thành Phương (cán bộ điều tra), Trần Xuân C và hình dấu Cơ quan điều tra Công an Quận 6 và 500.000 (năm trăm ngàn) đồng.

- Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Trần Xuân C phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

- Bị cáo Trần Xuân C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ