vanban.org

Bản án 76/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 15/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, 65 Bộ luật Hình sự;

Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Ngoc T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, 65 Bộ luật Hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 76/2021/HS-ST
Ngày 15-6-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hồng Thạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Công Gia

2. Ông Nguyễn Quang Chung

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Thượng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Xuyên - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 6 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2021/TLST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2021/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 4 năm 2021, quyết định hoãn phiên tòa số 04/2021/HSST-QĐ ngày 20 tháng 4 năm 2021; thông báo mở lại phiên tòa số 05/TB-TA ngày 20 tháng 5 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2021/HSST-QĐ ngày 04 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc T (Hạnh), sinh năm 1993, tại Đồng Nai. Nơi đăng ký thường trú: Ấp 4, xã TC, huyện TP, tỉnh ĐN; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam: tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Q (1970) và bà Nguyễn Thị Bích L (1974); vợ con chưa có; tiền sự, tiền án: Không; bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số 161/CQĐT-ĐTTH ngày 31/10/2020, hiện tại ngoại (có mặt).

- Bị hại: Bà Huỳnh Thị H (đã chết)

Người đại diện theo pháp luật của bà H:

1. Bà Trần Thị T, sinh năm 1946 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu 9, Thị trấn TP, huyện TP, tỉnh ĐN

2. Ông Phan Văn L1, sinh năm 1970 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp 1, xã TC, huyện TP, tỉnh ĐN

3. Chị Phan Thị Hồng P, sinh năm 1987 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu 9, Thị trấn TP, huyện TP, tỉnh ĐN

4. Chị Phan Thị Hồng L1, sinh năm 2000 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu 9, Thị trấn TP, huyện TP, tỉnh ĐN

Người có quyền lợi, nghĩa vụ L1 quan đến vụ án:

Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1970 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp 4, xã TC, huyện TP, tỉnh ĐN.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo T có giấy phép lái xe hạng A1 do Sở Giao thông công chánh tỉnh Đồng Nai cấp ngày 27/12/2016, có giá trị không thời hạn.

Khoảng 18 giờ 45 phút ngày 23/8/2020, T điều khiển xe mô tô biển số 60B3-334.54 (xe thuộc quyền sở hữu của bị cáo) chạy với vận tốc khoảng 50Km/h trên phần đường phải theo hướng Lâm Đồng – Dầu Giây, khi đến Km 58 + 300m quốc lộ 20 thuộc Khu 7, thi trấn Tân Phú, Tân Phú, Đồng Nai, thì đụng vào bà Huỳnh Thị H đang đi bộ qua đường từ bên trái qua phải theo chiều lưu thông của T gây tai nạn giao thông.

Hậu quả: Bà H được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Chợ Rẫy và tử vong ngày 27/8/2020. Bản kết luận giám định pháp y số 246/TT/2020 ngày 09/9/2020 của Trung tâm Pháp y Đồng Nai kết luận: Nguyên nhân chết của bà H do đa chấn thương: Chấn thương sọ não gây biến dạng vùng sọ trán, vỡ sọ trán nhiều mãnh phức tạp, tụ máu ngoài màng cứng vàng trán thái dương phải. Tụ máu dưới màng cứng dọc liềm não. Dập não, xuất huyết nảo trán hai bên; kết hợp chấn thương mặt gây gãy thành xoang hàm và gẫy cung gò má phải.

Nguyên nhân vụ tai nạn: Do T thiếu chú ý quan sát, không nhường đường cho người đi bộ, không làm chủ tốc độ.

Hiện trường vụ tai nạn: Tai nạn xảy ra trên đoạn đường thẳng, được trải bê tông nhựa bằng phẳng, chiều rộng mặt đường 11m, gồm 4 làn đường, trong đó có 02 làn đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ ở hai bên, mỗi làn rộng 2m; 02 làn đường dành cho xe cơ giới ở giữa, mỗi làn rộng 3m50, có vạch kẻ đường màu vàng đứt quãng ở giữa tim đường.

Xe mô tô ngả nghiêng bên trái trên phần giữa đường, đầu xe hướng về mép đường trái, đuôi xe hướng về mép đường phải, hình chiếu tâm bánh trước cách mép đường chuẩn 5m60, hình chiếu tâm bánh sau cách mép đường chuẩn 4m30. Vết trược đứt quãng rộng 0,01m dài 18m20 nằm trên đường phải, đầu trượt hướng Lâm Đồng, đuôi vết cày hướng Dầu Giây, khoảng cách từ đầu vết trượt đến mép đường chuẩn là 3m90, từ đuôi vết trượt đến mép đường chuẩn là 4m80.

Cáo trạng số 64/CT-VKSTP-ĐN ngày 02/03/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng mô tả. Nguyên nhân gây ra vụ tai nạn cho bị cáo thiếu chú ý quan sát.

Lời khai ông L1 là người đại diện cho bị hại: Bà H là vợ của ông. Cha bà H đã chết, mẹ bà H là bà Trần Thị T còn sống. Ông và bà H có 02 người con là Phan Thị Hồng L1 và Phan Thị Hạnh P. Sau khi tai nạn xảy ra gia đình bị cáo đã tích cực bồi thường, chủ động thăm hỏi gia đình bị hại. Gia đình có đơn bãi nại và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ông Q khai như sau: Ông là cha ruột của bị cáo T, số tiền bồi thường cho bị hại là tiền của gia đình ông. Việc ông bồi thường cho bị hại có sự tác động của bị cáo T, ông không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại cho ông số tiền đã bồi thường.

Sau khi phân tích các dấu hiệu phạm tội, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; đặc điểm nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 38, khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không bào chữa, tranh luận cho hành vi của mình, việc xét xử là không oan sai và nói lời sau cùng như sau: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về hoà nhập với cộng đồng và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Thủ tục tố tụng: Hoạt động tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên đã được thực hiện đúng về trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Việc vắng mặt của đại diện hợp pháp cho bị hại: Vấn đề bồi thường trong vụ án đã được giải quyết xong, đại diện hợp pháp cho bị hại có đơn bãi nại, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét thấy việc vắng mặt của đại diện hợp pháp cho bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử vẫn xét xử vụ án mà không phải hoãn phiên tòa.

Hành vi, tính chất, mức độ phạm tội:

Tại phiên tòa, bị cáo không cung cấp tài liệu chứng cứ mới và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo tại tòa là phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với sơ đồ hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận:

Bị cáo có giấy phép lái xe theo quy định. Khoảng 18 giờ 45 phút ngày 23/8/2020, tại Km số 58 + 300m thuộc Khu 7, Thị trấn Tân Phú, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 60B3-334.54 do thiếu chú ý quan sát, không nhường đường cho người đi bộ qua đường đã đụng vào bà H đang đi bộ qua đường gây tai nạn giao thông. Hậu quả bà H đi điều trị đến ngày 27/8/2020 thì tử vong.

Hành vi của T đã vi phạm vào khoản 4 Điều 11 Luật giao thông đường bộ, là nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn giao thông gây hậu quả chết người nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Vậy nên Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.

Tội phạm do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông, trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của ông Long, gây hoang mang trong cộng đồng dân cư nơi xảy ra vụ án, ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện nhiệm vụ chính trị tại địa phương. Vì vậy, nhằm để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội, cần thiết phải xét xử và áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi bị cáo đã gây ra, để thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi; đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả; có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn và là lao động chính trong gia đình; đại diện hợp pháp của bị hại có yêu cầu xem xét giảm nhẹ hình phạt là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đặc điểm nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.

Hình phạt, căn cứ quyết định hình phạt:

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý, có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong đó có ít nhất 01 tình tiết quy định tại khoản 1 Điều 51, không có tình tiết tăng nặng. Căn cứ vào Điều 65 Bộ luật hình sự và Điều 2, Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng chế định án treo, không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân nơi cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Các biện pháp tư pháp:

Bồi thường thiệt hại: Bị cáo và đại diện cho bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong, đại diện hợp pháp cho bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

Xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân, loại hình phạt áp dụng đối với các bị cáo phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, 65 Bộ luật Hình sự;

- Điều 2, Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

- Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt:

Nguyễn Ngọc T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (Ba) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Trà Cổ, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo; ông Nguyễn Văn Q được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Phan Văn L1, chị Phan Thị Hồng L1, chị Phan Thị Hồng P, bà Trần Thị T được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo đúng quy định.

Cỡ chữ