- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Chí T - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mai Chí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ H TỈNH T ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 76/2021/HS-ST Ngày: 29-6-2021. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ H, TỈNH T
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Ly.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Quang Truyền;
2. Ông Bùi Dân An.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Lan – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh T.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh T tham gia phiên tòa: Ông Phan Thanh Nhã - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh T xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 69/2021/TLST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2021/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Mai Chí T, sinh năm 2001, tại T; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: ấp T, xã TT, thị xã H, tỉnh T; nghề nghiệp: không có; trình độ học vấn 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Mai Đ và bà Bùi Thị Phương T. Vợ, con: chưa có;
Tiền án: không có.
Tiền sự: Quyết định số 77/2019/QĐ-TA ngày 13-8-2019, Tòa án nhân dân thị xã H áp dụng biện pháp xử lý hành chính bằng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 12 tháng.
Nhân thân: Ngày 13-01-2016, bị công an xã TT, thị xã H xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 08-4-2021, tạm giam ngày 14-4-2021 đến nay. Có mặt phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Mai Chí T là đối tượng sử dụng ma túy, vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 08-4-2021, thông qua mạng xã hội Facbook, Mai Chí T liên lạc với một người tên “Đ” (không rõ họ tên, địa chỉ) mua 01 bịch ma túy với giá 500.000 đồng, Đ đồng ý bán. Sau đó, T điều khiển xe mô tô biển số 70G1-187.71 đến hẻm 32, đường Trịnh Phong Đáng, thuộc ấp T, xã TT, thị xã H và gặp người tên “Tuấn” (không rõ họ tên, địa chỉ) là bạn của “Đ” để lấy ma túy. Sau khi mua, T cất dấu ma túy trong bao thuốc lá hiệu Jet, rồi để vào hộc xe phía trước bên trái, đem về nhà sử dụng. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, khi T đi đến hẻm 46, đường Nguyễn Văn Linh, đoạn thuộc ấp TT, xã TH, thị xã H, thì bị lực lượng Công an thị xã H bắt quả tang, thu giữ 01 bịch nylon, loại bóp dính miệng, bên trong chứa tinh thể màu trắng, được niêm phong, kí hiệu M.
Quá trình điều tra, Mai Chí T đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.
* Tại Kết luận giám định số 438/KL-KTHS ngày 14-4-2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng bên trong 01 bịch nylon, loại bóp dính miệng (ký hiệu M) gửi đến giám định là chất ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng 0,4638 gam.
Qua xác minh, Mai Chí T không có T sản nên không kê biên.
Đối với người tên Đ bán ma túy cho T hiện chưa xác định được, khi nào làm rõ xử lý sau.
Tại bản cáo trạng số 72/CT-VKSHT ngày 31-5-2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh T đã truy tố bị cáo Mai Chí T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
- Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố trong phần tranh luận: Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh và điều luật đối với bị cáo Mai Chí T đề nghị áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Mai Chí T mức án từ 01 năm đến 02 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Trong thời gian tạm giam bị cáo thấy hối hận về hành vi của mình nên xin Hội đồng xét xử tuyên bị cáo một mức hình phạt nhẹ nhất, bị cáo hứa không tái phạm sẽ làm người công dân tốt của xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã H, tỉnh T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, kết luận giám định cùng các T liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 08-4-2021, lực lượng Công an thị xã H tiến hành kiểm tra bắt quả tang và thu giữ của Bị cáo T 01 (một) bịch nylon loại bóp dính miệng bên trong là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,4638 gam. Hành vi của bị cáo đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an, làm gia tăng tệ nạn và các tội phạm về ma túy, gây ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của con người, hủy hoại sức khỏe, giảm khả năng lao động, tăng nguy cơ lây nhiễm các căn bệnh HIV-AIDS và là một trong những nguyên nhân gây ra tội phạm khác; nên cần phải có hình phạt tương xứng đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, về tình tiết giảm nhẹ trách nhiêm hình sự: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 gói niêm phong ghi vụ số 438/KL-KTHS có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn N, trợ lý giám định Nguyễn Văn Đ và dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T; khối lượng sau giám định 0,3511gam là chất ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy, 01 vỏ bao thuốc lá hiệu “Jet” đã qua sử dụng không có giá trị tử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Mai Chí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Mai Chí T 01 (Một) năm tù, thời hạn thi hành hình phạt tù được tính từ ngày 08-4-2021.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong ghi vụ số 438/KL-KTHS có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn N, trợ lý Giám định Nguyễn Văn Đ và dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T; khối lượng sau giám định 0,3511gam, 01 vỏ bao thuốc lá hiệu “Jet” đã qua sử dụng.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Mai Chí T phải chịu 200.000 đồng.
Án hình sự sơ thẩm xử công khai, báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh T trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống Đ hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh T; - Sở Tư pháp tỉnh T; - VKSND thị xã H; - CCTHADS thị xã H; - Công an thị xã H; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Thị Cẩm Ly |