- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn B - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ B | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 76/2021/HS-ST Ngày: 24/12/2021. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ B, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Tố Loan.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Chương.
Ông Quàng Văn Minh.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên.
- Đại diệnViện kiểm sát nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Phùng Cẩm Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 80/2021/TLST- HS ngày 30 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2021/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 12 năm 2021 đối với Bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn B; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1971, tại Điện Biên; Nơi cư trú: Thôn C1, xã T L, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Đ (đã chết); Con bà: Đinh Thị H; sinh năm 1934; Vợ: Lê Thị N, sinh năm 1972 và có 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2012; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 28/4/1997 Bị cáo bị TAND huyện Đ B, tỉnh Lai Châu (nay là tỉnh Điện Biên) xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Tổ chức dùng chất ma túy”, đến ngày 10/11/1997 chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống; Ngày 17/5/2016 Bị cáo bị TAND thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xử Miễn trách nhiệm hình sự về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án sơ thẩm số: 43/2016/HSST, sau đó bản án Sơ thẩm bị kháng nghị. Ngày 07/7/2016 TAND tỉnh Điện Biên xét xử theo thủ tục Phúc thẩm, giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 43/2016/HSST TAND thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên; Bị cáo đã được xóa án tích, Bị cáo có nhân thân xấu.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 08/10/2021, sau đó bị tạm giam cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 08/10/2021, Nguyễn Văn B đi bộ từ nhà ở Thôn C1, xã T L, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên cầm theo tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng với mục đích đi tìm mua hồng phiến về để sử dụng. Bị cáo đi bộ một mình đến khu vực Bản P, xã T L, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên thì gặp một người đàn ông dân tộc Thái, khoảng 40 tuổi (không biết tên, địa chỉ). Bị cáo hỏi người đàn ông đó: “Có hồng phiến bán không?”. Người đàn ông đó nói: “Có, mua bao nhiêu”. Bị cáo nói: “Bán cho một trăm nghìn đồng”. Sau đó Bị cáo lấy tiền ở trong người ra tờ tiền 100.000 đồng đưa cho người đàn ông. Người đàn ông đó cầm tiền và đưa lại cho Bị cáo 03 viên hồng phiến màu hồng. Bị cáo cầm lấy 03 viên hồng phiến đó, rồi nhặt lọ thủy tinh có nắp đậy bằng cao su màu nâu có chiều cao 5cm, đường kính 2cm. Sau đó Bị cáo cho 03 viên hồng phiến màu hồng vừa mua được vào trong lọ thủy tinh đó, cất lọ thủy tinh vào trong túi quần bên phải đang mặc rồi đi bộ về nhà. Còn người đàn ông đó đi đâu, làm gì Bị cáo không biết. Khi Bị cáo về đến nhà thì có tổ công tác Đội CSĐTTP về Kinh tế và Ma túy Công an huyện Đ B vào nhà giữ Bị cáo lại để kiểm tra. Qua kiểm tra tổ công tác phát hiện và thu giữ tại túi quần bên phải của Bị cáo đang mặc có 01 lọ thủy tinh màu trắng, có nắp đậy bằng cao su màu nâu có chiều cao 5cm, đường kính 2cm, bên trong có 03 viên hồng phiến màu hồng. Với nội dung trên, tổ công tác mời người chứng kiến đến tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định. Tổ công tác thi hành lệnh khám xét khẩn cấp chố ở đối với Bị cáo về hành vi: Tàng trữ trái phép chất ma túy, quan khám xét tổ công tác không phát hiện và thu giữ gì. Sau khi hoàn tất thủ tục, tổ công tác đưa Bị cáo cùng toàn bộ hồ sơ, vật chứng đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ B để điều tra làm rõ.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 08/10/2021 đã xác định: 03 viên nén màu hồng nghi ma túy tổng hợp, thu giữ của Nguyễn Văn B có khối lượng là 0,29 gam, gửi toàn bộ giám định.
Tại bản kết luận giám định số: 1168/GĐ- PC09 ngày 16/10/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu các viên nén màu hồng thu giữ của Nguyễn Văn B gửi giám định là chất ma túy: Loại Methamphetamine, nằm trong danh mục chất ma túy, STT 323, Mục IIC, Danh mục II, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018. Hoàn lại mẫu vật còn lại sau giám định là 0,25 gam.
Tại bản cáo trạng số: 322/CT-VKSĐB ngày 29/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Nguyễn Văn B về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt Bị cáo: Từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với Bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,25 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định và 01 lọ thủy tinh màu trắng, có nắp đậy bằng cao su màu nâu có chiều cao 5cm, đường kính 2cm.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố và không có ý kiến tranh luận gì về phần luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ B.
Lời nói sau cùng của Bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo để Bị cáo sớm trở về chăm sóc Mẹ già đang đau ốm và con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội của Bị cáo:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, Bị cáo Nguyễn Văn B khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung,biên bản ghi lời khai, bản tự khai có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với Bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định: Vào hồi 10 giờ 50 phút ngày 08/10/2021 tại Thôn C1, xã T L, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên, Nguyễn Văn B đã có hành vi cất giấu trái phép tại túi quần bên phải Bị cáo đang mặc 0,29 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm pháp luật. Hành vi nêu trên của Bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
…
...c)....Methamphetamine....có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, khẳng định Viện kiểm sát truy tố Bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không bị oan sai.
Về tính chất của vụ án: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, Bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật. Chính vì vậy Bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với Bị cáo để giáo dục Bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của Bị cáo:
- Tình tiết tăng nặng: Bản thân bị cáo không có tình thiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, ngoài ra Mẹ đẻ Bị cáo là bà Đinh Thị H được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhì, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại xã T L, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên, được gia đình nuôi ăn học hết lớp 12/12 thì nghỉ học, ở nhà làm ruộng cùng gia đình. Đến năm 1997 xây dựng gia đình với Lê Thị N và có với nhau 02 người con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2012.
Ngày 28/4/1997 Bị cáo bị TAND huyện Đ B, tỉnh Lai Châu (nay là tỉnh Điện Biên) xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Tổ chức dùng chất ma túy”, đến ngày 10/11/1997 chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống; Ngày 17/5/2016 Bị cáo bị TAND thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xử Miễn trách nhiệm hình sự về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án sơ thẩm số: 43/2016/HSST, sau đó bản án Sơ thẩm bị kháng nghị. Ngày 07/7/2016 TAND tỉnh Điện Biên xét xử theo thủ tục Phúc thẩm, giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 43/2016/HSST TAND thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên; Bị cáo đã được xóa án tích, Bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo nghiện ma túy từ năm 1992 cho đến ngày bị bắt.
Ngày 08/10/2021 Bị cáo bị Tổ công tác Đội CSĐTTP về Kinh tế và Ma túy Công an huyện Đ B, tỉnh Điện Biên bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, Cơ quan CSĐT- Công an huyện Đ B ra Quyết định khởi tố Bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với Bị can theo quy định của pháp luật.
Việc đề nghị áp dụng hình phạt của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đối với Bị cáo là có căn cứ nên HĐXX cần chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự:
“5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của Bị cáo tại phiên tòa cho thấy, nghề nghiệp của Bị cáo là làm ruộng, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS, số vật chứng đã thu giữ của Bị cáo cần xử lý như sau:
Đối với 0,25 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy.
01 lọ thủy tinh màu trắng, có nắp đậy bằng cao su màu nâu có chiều cao 5cm, đường kính 2cm Bị cáo dùng để đựng ma tuý, hết giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Các vấn đề khác:
Bị cáo khai nguồn gốc số ma túy Cơ quan điều tra thu giữ do Bị cáo mua của một người đàn ông dân tộc Thái, khoảng 40 tuổi (không biết tên, địa chỉ) nên không đủ thông tin để xác minh, triệu tập điều tra làm rõ. Vì vậy Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ B, tỉnh Điện Biên không đề cập xử lý trong vụ án này, nên HĐXX không xem xét xử lý.
Về hà nh vi, quyế t đị nh tố tụ ng củ a cơ quan tiến hành tố tụng , người tiến hành tố tụng:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Về án phí: Theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt Bị cáo: 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (08/10/2021).
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với Bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,25 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định và 01 lọ thủy tinh màu trắng, có nắp đậy bằng cao su màu nâu có chiều cao 5cm, đường kính 2cm.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/11/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ B và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ B, tỉnh Điện Biên).
3. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Đ B; - VKSND tỉnh Điện Biên; - TAND tỉnh Điện Biên; - HSNV Công an huyện ĐB; - CQĐT Công an huyện ĐB; - Nhà tạm giữ Công an huyện ĐB; - Chi cục THADS huyện Đ B; - Công an trại tạm giam; - Sở tư pháp tỉnh ĐB; - Hồ sơ THA hình sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thị Tố Loan |