vanban.org

Bản án 76/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Phạm Hữu C. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn Nhủ - Chính"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định chị N; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHÚ
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 23-7-2021
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHẤN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Phi

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trịnh Ngọc Thành

2. Ông Phạm Công Gia

Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Xuân Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Huỳnh – Kiểm sát viên.

Ngày 23/7/2021, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Tân Phú, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 04/2021/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2021 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2021/QĐXXST- HNGĐ ngày 05/7/2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1980 (vắng)

Địa chỉ: Tổ 5, Khu 1, TTTP, huyện TP, tỉnh ĐN.

Bị đơn: Anh Phạm Hữu C, sinh năm: 1979 (vắng)

Địa chỉ: Tổ 5, Khu 1, TTTP, huyện TP, tỉnh ĐN.

(Chị N, anh C có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị N thể hiện:

Chị N và anh Phạm Hữu C tự tìm hiểu yêu thương rồi kết hôn với nhau vào năm 2003. Hôn nhân của anh chị được Uỷ ban nhân dân xã PX, huyện TP, tỉnh ĐN cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 12/9/2003. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị chung sống tại gia đình anh C ở địa chỉ: Tổ 5, Khu 1, TTTP, huyện TP, tỉnh ĐN. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung nên thường hay xảy ra cãi vã với nhau. Năm 2018, chị bỏ ra ngoài sinh sống và vợ chồng anh chị không sống chung với nhau, không quan tâm chăm sóc nhau. Nay, tình cảm của chị đối với anh C không còn nên chị yêu cầu được giải quyết ly hôn với anh C.

Về con chung: Chị và anh C có 02 con là Phạm Minh Đ, sinh ngày 03/7/2003 và Phạm Minh N1, sinh ngày 04/11/2007. Hiện tại, các con chung anh C đang trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị đồng ý giao 02 con chung cho anh C tiếp tục nuôi dưỡng và chị tạm thời không cấp dưỡng nuôi con do công việc chưa ổn định.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh C không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Tại biên bản ghi lời khai, ý kiến cũng như yêu cầu của bị đơn anh Phạm Hữu C thể hiện:

Anh và chị Nguyễn Thị N tự tìm hiểu yêu thương rồi kết hôn với nhau vào năm 2003. Hôn nhân của anh chị được Uỷ ban nhân dân xã PX, huyện TP cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 12/9/2003. Cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Do đó, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau nên chị N đã bỏ đi và vợ chồng không còn sống chung với nhau. Nay chị N yêu cầu ly hôn thì anh cũng đồng ý ly hôn với chị N.

Về con chung: Anh và chị N có 02 con chung là Phạm Minh Đ, sinh ngày 03/7/2003 và Phạm Minh N1, sinh ngày 04/11/2007. Hiện tại, các con chung do anh đang nuôi dưỡng, khi ly hôn anh có nguyện vọng tiếp tục được nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh và chị N không có và không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án chị N đã cung cấp những tài liệu, chứng cứ sau: Chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu của chị N, anh C (bản sao); Trích lục kết hôn (bản sao); Giấy khai sinh của 02 con (bản sao).

Để giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ sau: Bản tự khai của nguyên đơn; biên bản ghi lời khai của bị đơn; Biên bản xác minh về tình trạng hôn nhân, điều kiện nuôi con của các đương sự; Đơn thể hiện nguyện vọng của cháu Đ, cháu N1. Các tài liệu, chứng cứ nêu trên đã được Tòa án ra thông báo cho các bên đương sự biết đồng thời tiến hành mở phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và ra thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho những người vắng mặt theo đúng quy định của pháp luật.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm:

- Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình thụ lý, giải quyết và tại phiên tòa xét xử sơ thẩm; Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và các đương sự tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn.

+ Về quan hệ hôn nhân: Cho chị N được ly hôn anh C.

+ Về quan hệ nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Giao con chung tên Phạm Minh N1, sinh ngày 04/11/2007 cho anh C nuôi dưỡng. Chị N tạm thời không phải cấp dưỡng nuôi con chung do anh C không yêu cầu. Đối với cháu Phạm Minh Đ, sinh ngày 03/7/2003 đã thành niên và có khả năng lao động nên không xem xét.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Chị N, anh C khai báo không có và không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Khi nào phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.

+ Về án phí: Chị N phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tại phiên tòa, chị N, anh C vắng mặt nên các đương sự không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ nào khác. Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về áp dụng pháp luật tố tụng:

. Xác định thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật: Anh C có địa chỉ tại TTTP, huyện TP, tỉnh ĐN. Vì vậy, căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú. Chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Vì vậy, cần xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Xác định tư cách đương sự: Chị N khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh C. Căn cứ theo khoản 2, khoản 3 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định chị N là nguyên đơn, anh C là bị đơn trong vụ án.

- Chị N, anh C có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

. Về áp dụng pháp luật nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị N, anh C là hợp pháp được Uỷ ban nhân dân xã PX, huyện TP cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 12/9/2003. Chị N có đơn yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết theo thủ tục chung về ly hôn mà Luật hôn nhân và gia đình quy định.

Xét lời khai của chị N, anh C và các tài liệu, chứng cứ thu thập trong quá trình tiến hành tố tụng thể hiện: Quá trình chung sống vợ chồng anh chị hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân xuất phát từ việc vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống dẫn đến cuộc sống chung vợ chồng luôn bất hòa. Qua xác minh tại địa phương thể hiện đời sống chung của vợ chồng anh chị không còn hạnh phúc và đã không còn chung sống từ năm 2018 cho đến nay.

Như vậy, có căn cứ xác định cả hai đã vi phạm nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị N yêu cầu ly hôn với anh C và được anh C đồng ý ly hôn nên chấp nhận sự tự nguyện thuận tình ly hôn của chị N và anh C. Để anh chị sớm có điều kiện ổn định cuộc sống của mình, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp chận yêu cầu của chị N, cho chị được ly hôn với anh C là phù hợp với pháp luật.

. Về quan hệ nuôi dưỡng con:

Chị N và anh C có 02 con chung tên Phạm Minh Đ, sinh ngày 03/7/2003 và Phạm Minh N1, sinh ngày 04/11/2007. Khi ly hôn, chị N đồng ý giao 02 con cho anh C nuôi dưỡng, yêu cầu này của chị N được anh C đồng ý chấp thuận.

Hiện tại, cháu Phạm Minh Đ đã thành niên và đủ khả năng lao động tự nuôi sống bản thân nên Hội đồng xét xử không xem xét việc việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con đối với cháu Đ. Việc anh C tiếp tục nuôi dưỡng cháu N1 là phù hợp với nguyện vọng của con chung và quyền lợi mọi mặt của con chung. Căn cứ vào quy định Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình giao con chung tên Phạm Minh N1 cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung:

Anh C không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Khi nào có tranh chấp về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con sẽ giải quyết bằng vụ kiện khác.

. Về tài sản chung, nợ chung: Chị N, anh C khai báo không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, khi nào có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ kiện khác.

. Về án phí: Chị N phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Xét quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 235 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 19, 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Phạm Hữu C.

- Về quan hệ nuôi con chung: Giao cháu Phạm Minh N1, sinh ngày 04/11/2007 cho anh C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị N có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được gây trở ngại. Vì lợi ích của con chưa thành niên, các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Đối với cháu Phạm Minh Đ, sinh ngày 03/7/2003 đã thành niên và có khả năng lao động tự lao động nuôi sống bản thân nên không xem xét.

- Về mức cấp dưỡng nuôi con chung: Không xem xét.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

2. Về án phí: Chị N phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) chị đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0003929 ngày 05/01/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai chuyển thành án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ