vanban.org

Bản án 76/2021/HNGĐ-PT — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 27/05/2021 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/05/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần kháng cáo của anh T.A.P; Sửa bản

án hôn nhân và gia đình Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm Bản án 55/2021/QĐST-HNGĐ Tuyên án 24/02/2021
Phúc thẩm — đang xem Bản án 76/2021/HNGĐ-PT Tuyên án 27/05/2021

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đào Phúc"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của anh T.A.P; Sửa bản
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

————————
Bản án số: 76/2021/HNGĐ-PT
Ngày: 27/5/2021
V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông

Hoàng Chí Nguyện.

Các Thẩm phán:

Ông Phan Quyết Thắng và bà Bùi Thị Thu Hồng.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà

Nguyễn Hồng Nhung.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:

Bà Trịnh Thu Tân - Kiểm sát viên.

Ngày 27-5-2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội;

Mở phiên

tòa xét xử phúc thẩm công khai

vụ án hôn nhân

và gia đình

thụ lý số 50/2021/TLPT-HNGĐ ngày 06-4-2021 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”;

Do Bản

án Hôn nhân

và gia đình

sơ thẩm

số xx/2021/HNGĐ-ST ngày 24-02-2021 của Tòa án nhân dân huyện B.V, Thành phố Hà Nội có kháng cáo.

Theo Quyết định đưa

vụ án ra xét xử phúc thẩm

số 113/2021/QĐXX-PT ngày 12-5-2021, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn không kháng cáo: Chị N.T.Đ, sinh năm 1983; HKTT: Thôn T.N, xã L.P, huyện H.Đ, thành phố Hà Nội. Có mặt.

*

Bị đơn

có kháng cáo: anh T.A.P, sinh năm 1980; HKTT: Thôn P.T,

xã P.C, huyện B.V, thành phố Hà Nội. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án có nội dung:

Chị N.T.Đ

kết hôn

với anh T.A.P trên

cơ sở tự do tìm hiểu

và tự nguyện,

có đăng

ký kết hôn

tại Ủy ban nhân dân

xã L.P, huyện H.Đ,

Hà Nội ngày 19-5-2004. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2019

thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân:

Do vợ chồng

bất đồng quan điểm, không

có tiếng

nói chung, không có

sự chia

sẻ cảm thông, quan tâm, chăm

sóc lẫn nhau.

Vợ chồng

đã sống

ly thân

từ tháng 9-2020 đến nay.

Chị N.T.Đ xác định tình cảm

vợ chồng không còn nên làm đơn khởi kiện

đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng được ly hôn.

anh T.A.P xác định tình cảm

vợ chồng vẫn còn; nếu Chị N.T.Đ kiên quyết

ly hôn thì anh cũng đồng ý.

-

Về con chung: Vợ chồng

có 02 con chung

là cháu Trần.T.A, sinh ngày: 22-5-2005 và cháu Trần.T.T, sinh ngày 25-8-2006.

Vợ chồng

ly hôn, Chị N.T.Đ

có nguyện vọng

xin được nuôi giữ, chăm

sóc cả hai con, không yêu cầu anh

P phải cấp dưỡng nuôi con; anh T.A.P

đề nghị Tòa

án giải quyết theo nguyện vọng của các con.

-

Về tài sản và nghĩa

vụ chung: Các đương

sự đều

xác định

vợ chồng không

có tài sản chung, không có nghĩ vụ chung và đều không yêu cầu Tòa án xem xét.

Tại Bản

án Hôn nhân

và gia đình

sơ thẩm

số 55/2021/HNGĐ-ST ngày 24-02-2021 của Tòa

án nhân dân huyện

Ba Vì, Thành phố

Hà Nội,

đã quyết định: Chấp nhận toàn

bộ yêu cầu khởi kiện của Chị N.T.Đ

đối với anh T.A.P

về việc

ly hôn

và tranh chấp nuôi con chung:

Xử cho Chị N.T.Đ được

ly hôn anh T.A.P. Giao Chị N.T.Đ trực tiếp chăm

sóc nuôi dưỡng, chăm

sóc 02 con chung

là cháu Trần.T.A, sinh ngày 22-5-2005

và cháu Trần.T.T, sinh ngày 25-8-2006; tạm miễn nghĩa

vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh T.A.P đến

khi Chị N.T.Đ

có yêu cầu

và anh

P có điều kiện thực hiện nghĩa

vụ cấp dưỡng, anh T.A.P được quyền qua

lại, thăm nom, chăm sóc con chung theo quy định của pháp luật. Ngoài

ra, bản

án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Không đồng

ý với quyết định của bản

án sơ thẩm. Ngày 08-3-2021, anh T.A.P nộp đơn kháng cáo

về phần con chung

với yêu cầu: Xin được nuôi giữ, chăm

sóc cả 02 con chung, không yêu cầu Chị Đ đóng góp tiền cấp dưỡng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

anh T.A.P giữ nguyên kháng cáo,

đề nghị được nuôi

cả hai con chung

và không yêu cầu Chị

Đ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con,

với lý do: Nguyện vọng của

02 con chung được sống cúng anh; hiện anh làm việc

tự do với mức

thu nhập

từ 10 triệu đến 15 triệu đồng/tháng đủ điều kiện nuôi con.

Chị N.T.Đ

có quan điểm: Căn

cứ nguyện vọng của các con chung theo quan điểm của các cháu, Chị

Đ đề nghị được nuôi giữ, chăm sóc cháu Trần.T.T, sinh ngày 25-8-2006

và đồng

ý để anh T.A.P nuôi giữ, chăm sóc cháu Trần.T.A, sinh ngày 22-5-2005. Hiện Chị

Đ làm nghề may

tại nhà

với mức

thu nhập

từ 08 triệu đến 09 triệu đồng/tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:

Về

tố tụng: anh T.A.P làm đơn kháng

cáo và nộp tiền tạm ứng

án phí trong thời hạn nên kháng cáo

là hợp

lệ. Thẩm phán

và Hội đồng

xét xử thực hiện đúng quy định của

Bộ luật

tố tụng dân

sự; quyền

và nghĩa

vụ của các đương

sự được đảm bảo thực hiện trước và tại phiên tòa.

Về

nội dung kháng cáo: Căn

cứ yêu cầu

và điều kiện sống của

các đương

sự; căn

cứ nguyện vọng của các cháu

là con chung của anh

P, Chị

Đ. Đề nghị HĐXX phúc thẩm

căn cứ khoản 2 Điều 308

Bộ luật

tố tụng dân

sự xử: Chấp nhận một phần kháng cáo của anh T.A.P;

sửa bản

án sơ thẩm theo hướng: Giao Chị N.T.Đ nuôi

giữ cháu Trần.T.T, sinh ngày 25-8-2006, giao cho anh T.A.P nuôi giữ, chăm

sóc cháu Trần.T.A, sinh ngày 22-5-2005.

Các

nội dung khác của bản

án sơ thẩm không

có kháng cáo

có hiệu

lực pháp luật; người kháng cáo không phải chịu tiền án phí phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau

khi nghiên cứu các

tài liệu

có trong

hồ sơ vụ án được thẩm

tra tại phiên tòa; Căn

cứ vào

kết quả tranh luận

tại phiên tòa, ý kiến của

các đương

sự và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

.

Về tố tụng: anh T.A.P làm đơn kháng

cáo và nộp tiền tạm ứng

án phí phúc thẩm trong thời hạn nên kháng cáo của anh

P là hợp

lệ, phù hợp quy định

tại Điều 273 và Điều 276 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn

là anh T.A.P đăng

ký hộ khẩu thường

trú và thường xuyên

cư trú tại xã Phú Cường, huyện

Ba Vì, thành phố

Hà Nội. Tòa

án nhân dân huyện

Ba Vì thụ lý và giải quyết

vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định

tại điểm a khoản 1 Điều

39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

.

Về nội dung kháng cáo: anh T.A.P làm đơn kháng

cáo yêu

cầu Tòa

án cấp phúc thẩm giải quyết việc nuôi con chung giữa

vợ chồng. Căn

cứ quy định

tại Điều 293

Bộ luật

Tố tụng dân

sự, thì Tòa

án cấp phúc thẩm

chỉ xem

xét đến phần bản

án sơ thẩm giải quyết yêu cầu nuôi con chung giữa các đương sự.

Xét thấy: Vợ chồng anh T.A.P

và Chị N.T.Đ

có hai con chung

là cháu Trần.T.A, sinh ngày 22-5-2005

và cháu Trần.T.T, sinh ngày 25-8-2006; hiện

tại cả 02 cháu đều đang

là học sinh

và học

tập trên

địa bàn huyện Hoài Đức. Chị

Đ và anh P đều làm công việc

tự do với mức

thu nhập khoảng

từ 08 đến

15 triệu đồng/tháng, có điều kiện để chăm sóc con chung.

Căn

cứ nguyện vọng của

hai con chung,

cụ thể: Cháu Trần.T.A

có nguyện vọng chúng sống cùng anh

P; cháu Trần.T.T

có nguyện vọng chúng sống cùng Chị Đ. Hơn nữa,

tại cấp phúc thẩm

thì Chị

Đ cũng

đề nghị Tòa

án chấp nhận nguyện vọng của các cháu. Việc anh T.A.P

đề nghị

xin được nuôi

giữ chăm

sóc cả 02 con chung là không phù hợp.

Kháng cáo của anh T.A.P có căn cứ được chấp nhận một phần.

Vì vậy,

xét chấp nhận một phần kháng cáo của anh T.A.P

để giao anh

P trực tiếp nuôi giữ, chăm

sóc 01 con chung;

sửa một phần bản

án sơ thẩm

về con chung, theo

đó: Giao cháu Trần.T.A cho anh

P chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cháu Trần.T.T cho Chị Đ chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.

Các

nội dung khác của bản

án sơ thẩm không

có kháng cáo

có hiệu

lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

.

Về án phí phúc thẩm:

Do bản

án phúc thẩm

bị sửa nên người kháng cáo không phải chịu tiền án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

Căn

cứ khoản 2 Điều 308

Bộ luật

Tố tụng dân

sự; khoản 2 Điều

29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

QUYẾT ĐỊNH

1. Chấp nhận một phần kháng cáo của anh T.A.P; Sửa bản

án hôn nhân

và gia đình

sơ thẩm

số 55/2021/HNGĐ-ST ngày 24-02-2021 của Tòa

án nhân dân huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội về phần nuôi con chung, cụ thể:

- Giao anh T.A.P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm

sóc con chung

là cháu Trần.T.A, sinh ngày 22-5-2005; giao Chị N.T.Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Trần.T.T, sinh ngày 25-8-2006. anh

P và Chị

Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau và có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

- Các phần quyết định khác của bản

án sơ thẩm không

có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

2.

Về án phí phúc thẩm: anh T.A.P không phải chịu tiền

án phí dân

sự phúc thẩm. Hoàn

trả lại anh T.A.P

số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp tạm ứng án

phí theo Biên

lai thu tạm ứng

án phí số 00630 ngày 08-3-2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ