- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đào Phúc"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của anh T.A.P; Sửa bản
- Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ———————— Bản án số: 76/2021/HNGĐ-PT Ngày: 27/5/2021 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông
Hoàng Chí Nguyện.
Các Thẩm phán:
Ông Phan Quyết Thắng và bà Bùi Thị Thu Hồng.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà
Nguyễn Hồng Nhung.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:
Bà Trịnh Thu Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 27-5-2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội;
Mở phiên
tòa xét xử phúc thẩm công khai
vụ án hôn nhân
và gia đình
thụ lý số 50/2021/TLPT-HNGĐ ngày 06-4-2021 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”;
Do Bản
án Hôn nhân
và gia đình
sơ thẩm
số xx/2021/HNGĐ-ST ngày 24-02-2021 của Tòa án nhân dân huyện B.V, Thành phố Hà Nội có kháng cáo.
Theo Quyết định đưa
vụ án ra xét xử phúc thẩm
số 113/2021/QĐXX-PT ngày 12-5-2021, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn không kháng cáo: Chị N.T.Đ, sinh năm 1983; HKTT: Thôn T.N, xã L.P, huyện H.Đ, thành phố Hà Nội. Có mặt.
*
Bị đơn
có kháng cáo: anh T.A.P, sinh năm 1980; HKTT: Thôn P.T,
xã P.C, huyện B.V, thành phố Hà Nội. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án có nội dung:
Chị N.T.Đ
kết hôn
với anh T.A.P trên
cơ sở tự do tìm hiểu
và tự nguyện,
có đăng
ký kết hôn
tại Ủy ban nhân dân
xã L.P, huyện H.Đ,
Hà Nội ngày 19-5-2004. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2019
thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân:
Do vợ chồng
bất đồng quan điểm, không
có tiếng
nói chung, không có
sự chia
sẻ cảm thông, quan tâm, chăm
sóc lẫn nhau.
Vợ chồng
đã sống
ly thân
từ tháng 9-2020 đến nay.
Chị N.T.Đ xác định tình cảm
vợ chồng không còn nên làm đơn khởi kiện
đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng được ly hôn.
anh T.A.P xác định tình cảm
vợ chồng vẫn còn; nếu Chị N.T.Đ kiên quyết
ly hôn thì anh cũng đồng ý.
-
Về con chung: Vợ chồng
có 02 con chung
là cháu Trần.T.A, sinh ngày: 22-5-2005 và cháu Trần.T.T, sinh ngày 25-8-2006.
Vợ chồng
ly hôn, Chị N.T.Đ
có nguyện vọng
xin được nuôi giữ, chăm
sóc cả hai con, không yêu cầu anh
P phải cấp dưỡng nuôi con; anh T.A.P
đề nghị Tòa
án giải quyết theo nguyện vọng của các con.
-
Về tài sản và nghĩa
vụ chung: Các đương
sự đều
xác định
vợ chồng không
có tài sản chung, không có nghĩ vụ chung và đều không yêu cầu Tòa án xem xét.
Tại Bản
án Hôn nhân
và gia đình
sơ thẩm
số 55/2021/HNGĐ-ST ngày 24-02-2021 của Tòa
án nhân dân huyện
Ba Vì, Thành phố
Hà Nội,
đã quyết định: Chấp nhận toàn
bộ yêu cầu khởi kiện của Chị N.T.Đ
đối với anh T.A.P
về việc
ly hôn
và tranh chấp nuôi con chung:
Xử cho Chị N.T.Đ được
ly hôn anh T.A.P. Giao Chị N.T.Đ trực tiếp chăm
sóc nuôi dưỡng, chăm
sóc 02 con chung
là cháu Trần.T.A, sinh ngày 22-5-2005
và cháu Trần.T.T, sinh ngày 25-8-2006; tạm miễn nghĩa
vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh T.A.P đến
khi Chị N.T.Đ
có yêu cầu
và anh
P có điều kiện thực hiện nghĩa
vụ cấp dưỡng, anh T.A.P được quyền qua
lại, thăm nom, chăm sóc con chung theo quy định của pháp luật. Ngoài
ra, bản
án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Không đồng
ý với quyết định của bản
án sơ thẩm. Ngày 08-3-2021, anh T.A.P nộp đơn kháng cáo
về phần con chung
với yêu cầu: Xin được nuôi giữ, chăm
sóc cả 02 con chung, không yêu cầu Chị Đ đóng góp tiền cấp dưỡng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
anh T.A.P giữ nguyên kháng cáo,
đề nghị được nuôi
cả hai con chung
và không yêu cầu Chị
Đ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con,
với lý do: Nguyện vọng của
02 con chung được sống cúng anh; hiện anh làm việc
tự do với mức
thu nhập
từ 10 triệu đến 15 triệu đồng/tháng đủ điều kiện nuôi con.
Chị N.T.Đ
có quan điểm: Căn
cứ nguyện vọng của các con chung theo quan điểm của các cháu, Chị
Đ đề nghị được nuôi giữ, chăm sóc cháu Trần.T.T, sinh ngày 25-8-2006
và đồng
ý để anh T.A.P nuôi giữ, chăm sóc cháu Trần.T.A, sinh ngày 22-5-2005. Hiện Chị
Đ làm nghề may
tại nhà
với mức
thu nhập
từ 08 triệu đến 09 triệu đồng/tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:
Về
tố tụng: anh T.A.P làm đơn kháng
cáo và nộp tiền tạm ứng
án phí trong thời hạn nên kháng cáo
là hợp
lệ. Thẩm phán
và Hội đồng
xét xử thực hiện đúng quy định của
Bộ luật
tố tụng dân
sự; quyền
và nghĩa
vụ của các đương
sự được đảm bảo thực hiện trước và tại phiên tòa.
Về
nội dung kháng cáo: Căn
cứ yêu cầu
và điều kiện sống của
các đương
sự; căn
cứ nguyện vọng của các cháu
là con chung của anh
P, Chị
Đ. Đề nghị HĐXX phúc thẩm
căn cứ khoản 2 Điều 308
Bộ luật
tố tụng dân
sự xử: Chấp nhận một phần kháng cáo của anh T.A.P;
sửa bản
án sơ thẩm theo hướng: Giao Chị N.T.Đ nuôi
giữ cháu Trần.T.T, sinh ngày 25-8-2006, giao cho anh T.A.P nuôi giữ, chăm
sóc cháu Trần.T.A, sinh ngày 22-5-2005.
Các
nội dung khác của bản
án sơ thẩm không
có kháng cáo
có hiệu
lực pháp luật; người kháng cáo không phải chịu tiền án phí phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau
khi nghiên cứu các
tài liệu
có trong
hồ sơ vụ án được thẩm
tra tại phiên tòa; Căn
cứ vào
kết quả tranh luận
tại phiên tòa, ý kiến của
các đương
sự và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
.
Về tố tụng: anh T.A.P làm đơn kháng
cáo và nộp tiền tạm ứng
án phí phúc thẩm trong thời hạn nên kháng cáo của anh
P là hợp
lệ, phù hợp quy định
tại Điều 273 và Điều 276 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn
là anh T.A.P đăng
ký hộ khẩu thường
trú và thường xuyên
cư trú tại xã Phú Cường, huyện
Ba Vì, thành phố
Hà Nội. Tòa
án nhân dân huyện
Ba Vì thụ lý và giải quyết
vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định
tại điểm a khoản 1 Điều
.
Về nội dung kháng cáo: anh T.A.P làm đơn kháng
cáo yêu
cầu Tòa
án cấp phúc thẩm giải quyết việc nuôi con chung giữa
vợ chồng. Căn
cứ quy định
tại Điều 293
Bộ luật
Tố tụng dân
sự, thì Tòa
án cấp phúc thẩm
chỉ xem
xét đến phần bản
án sơ thẩm giải quyết yêu cầu nuôi con chung giữa các đương sự.
Xét thấy: Vợ chồng anh T.A.P
và Chị N.T.Đ
có hai con chung
là cháu Trần.T.A, sinh ngày 22-5-2005
và cháu Trần.T.T, sinh ngày 25-8-2006; hiện
tại cả 02 cháu đều đang
là học sinh
và học
tập trên
địa bàn huyện Hoài Đức. Chị
Đ và anh P đều làm công việc
tự do với mức
thu nhập khoảng
từ 08 đến
15 triệu đồng/tháng, có điều kiện để chăm sóc con chung.
Căn
cứ nguyện vọng của
hai con chung,
cụ thể: Cháu Trần.T.A
có nguyện vọng chúng sống cùng anh
P; cháu Trần.T.T
có nguyện vọng chúng sống cùng Chị Đ. Hơn nữa,
tại cấp phúc thẩm
thì Chị
Đ cũng
đề nghị Tòa
án chấp nhận nguyện vọng của các cháu. Việc anh T.A.P
đề nghị
xin được nuôi
giữ chăm
sóc cả 02 con chung là không phù hợp.
Kháng cáo của anh T.A.P có căn cứ được chấp nhận một phần.
Vì vậy,
xét chấp nhận một phần kháng cáo của anh T.A.P
để giao anh
P trực tiếp nuôi giữ, chăm
sóc 01 con chung;
sửa một phần bản
án sơ thẩm
về con chung, theo
đó: Giao cháu Trần.T.A cho anh
P chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cháu Trần.T.T cho Chị Đ chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.
Các
nội dung khác của bản
án sơ thẩm không
có kháng cáo
có hiệu
lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
.
Về án phí phúc thẩm:
Do bản
án phúc thẩm
bị sửa nên người kháng cáo không phải chịu tiền án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
Căn
cứ khoản 2 Điều 308
Bộ luật
Tố tụng dân
sự; khoản 2 Điều
29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
QUYẾT ĐỊNH
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của anh T.A.P; Sửa bản
án hôn nhân
và gia đình
sơ thẩm
số 55/2021/HNGĐ-ST ngày 24-02-2021 của Tòa
án nhân dân huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội về phần nuôi con chung, cụ thể:
- Giao anh T.A.P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm
sóc con chung
là cháu Trần.T.A, sinh ngày 22-5-2005; giao Chị N.T.Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Trần.T.T, sinh ngày 25-8-2006. anh
P và Chị
Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau và có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.
- Các phần quyết định khác của bản
án sơ thẩm không
có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
2.
Về án phí phúc thẩm: anh T.A.P không phải chịu tiền
án phí dân
sự phúc thẩm. Hoàn
trả lại anh T.A.P
số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp tạm ứng án
phí theo Biên
lai thu tạm ứng
án phí số 00630 ngày 08-3-2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Hà Nội; - TAND huyện Ba Vì; - Chi cục THADS huyện Ba Vì; - Các đương sự; - Lưu HS. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Chí Nguyện |