vanban.org

Bản án 76/2021/DS-ST — Tranh chấp về chia tài sản chung

TAND TP. Hội An, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 24/09/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Không chấp nhận toàn bộ y u cầu kh i kiện của nguy n đơn, ông Trần Văn V1 đối v i bị đơn, ông Trần Văn H về việc chia tài sản chung của hộ gia đình là quyền sử dụng đất đối v i thửa đất số 138, tờ bản đồ số 13, diện tích 100m2, loại đất đô thị, vị trí thửa đất: tại khối P, phư…

2/ Chấp nhận toàn bộ y u cầu độc lập của ông Trần Văn S về việc chia di sản của ông Trần Văn V1 để lại là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 138, tờ bản đồ số 13, diện tích 100 m2 tại khối P, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác g… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản chung — án dân sự — "Ông Trần Văn V xin Chia tài sản chung"
  • Tòa quyết gì? 1/ Không chấp nhận toàn bộ y u cầu kh i kiện của nguy n đơn, ông Trần Văn V1 đối v i bị đơn, ông Trần Văn H về việc chia tài sản chung của hộ gia đình là quyền sử dụng đất đối v i thửa đất số 138, tờ bản đồ số 13, diện tích 100m2, loại đất đô thị, vị trí thửa đất: tại khối P, phư…
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỘI AN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2021/DS-ST
Ngày: 24-9-2021.
V/v: “Tranh chấp chia tài sản chung
và Tranh chấp về thừa kế tài sản”

NNHHÂÂNN DDAANNHH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Tấn Thành.

2/ Ông Nguyễn Văn Quang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ba, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Bích, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2021, tại Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 47/2020/TLST-DS ngày 17 tháng 6 năm 2020 về việc: “Tranh chấp chia tài sản chung và Tranh chấp về thừa kế tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2021/ QĐXXST- DS ngày 23 tháng 8 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Văn V1, sinh năm 1939 (đã chết).

Địa chỉ: khối T, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam.

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn:

1) Bà Trần Thị Kim L, sinh năm 1963. (Vắng mặt)

Trú tại: khối X, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam.

2) Bà Trần Thị Cẩm V2, sinh năm 1968. (Vắng mặt)

Trú tại: thôn V, xã C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam.

3) Bà Trần Thị Thạch G, sinh năm 1970. (Vắng mặt)

Trú tại: khối T, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam.

4) Ông Trần Văn A, sinh năm 1972.(Vắng mặt)

Trú tại: khối T, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam.

5) Bà Trần Thị Túy V3, sinh năm 1975. (Vắng mặt)

Trú tại: đường M, phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng.

6) Ông Trần Văn T, sinh năm 1976.(Vắng mặt)

Trú tại: khối T, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam.

7) Anh Trần Công C, sinh năm 1999.(Vắng mặt)

Địa chỉ: khối T, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam.

8) Cháu Trần Công A1, sinh năm 2009. (Vắng mặt)

Địa chỉ: khối T, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam.

Người giám hộ cho cháu A1: Bà Nguyễn Thị Như T1, sinh năm 1978.

Địa chỉ: khối T, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Là mẹ ruột. (Vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Trần Văn H, sinh năm 1978.(Vắng mặt)

Địa chỉ: khối T, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1) Bà Đặng Thị M, sinh năm 1981.

Địa chỉ: khối T, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam.

Đại diện: Ông Trần Văn H, sinh năm 1978. (Vắng mặt)

Địa chỉ: khối T, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam.

Là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 10/11/2020)

2) Chị Trần Thị N, sinh năm 2002.

Địa chỉ: khối T, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam.

Đại diện: Ông Trần Văn H, sinh năm 1978.(Vắng mặt)

Địa chỉ: khối T, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam.

Là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 10/11/2020)

3) Cháu Trần Thị Thanh H1, sinh năm 2008.

Địa chỉ: khối T, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam.

Người giám hộ cho cháu H1: Ông Trần Văn H và bà Đặng Thị M là cha mẹ ruột.(Vắng mặt)

4) Ông Trần Văn S, sinh năm 1986. (Có mặt)

Địa chỉ: đường P, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam.

Đại diện: Bà Mai Thị T1, sinh năm: 1995.(Có mặt)

Địa chỉ: đường 18/8, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam.

Là đại diện theo ủy quyền(Văn bản ủy quyền ngày 14/4/2021).

5) Bà Trần Thị Kim L, sinh năm 1963. (Vắng mặt)

Trú tại: khối X, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam.

6) Bà Trần Thị Cẩm V2, sinh năm 1968. (Vắng mặt)

Trú tại: thôn V, xã C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam.

7) Bà Trần Thị Thạch G, sinh năm 1970. (Vắng mặt)

Trú tại: khối T, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam.

8) Ông Trần Văn A, sinh năm 1972. (Vắng mặt)

Trú tại: khối T, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam.

9) Bà Trần Thị Túy V3, sinh năm 1975. (Vắng mặt)

Trú tại: đường M, phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng.

10) Ông Trần Văn T, sinh năm 1976. (Vắng mặt)

Trú tại: khối T, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam.

11) Anh Trần Công C, sinh năm 1999. (Vắng mặt)

Địa chỉ: khối T, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam.

12) Cháu Trần Công A1, sinh năm 2009.

Địa chỉ: khối T, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam.

Người giám hộ cho cháu A1: Bà Nguyễn Thị Như T1, sinh năm 1978.

Địa chỉ: khối T, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Là mẹ ruột. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 25/4/2020, bản trình bày ngày 12/5/2020, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, ông Trần Văn V1 và đại diện nguyên đơn, bà Nguyễn Thị Hoài Th trình bày:

Trư c đ y, ông Trần Văn V1 có sử dụng thửa đất nuôi trồng thủy sản tại phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Khi Nhà nư c thực hiện dự án khu đô thị Phư c Trạch - Phư c Hải, diện tích đất nuôi trồng thủy sản đó ảnh hư ng b i dự án n n bị Nhà nư c thu hồi toàn bộ diện tích. au đó, ông V1 có làm đơn đề nghị đư c mua một lô đất tái định cư theo chính sách của Nhà nư c và đư c Ủy ban nh n d n thành phố H thống nhất đồng thời phải nộp 100 tiền sử dụng đất.

Do số tiền nhận bồi thường trư c đó đã đư c ông V1 chia đều cho các con n n để có tiền nộp tiền sử dụng đất, ngày 15/11/2017, ông V1 nhận tiền đặt cọc 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) của ông Trần Văn S để chuyển như ng lô đất sau khi có Giấy chứng nhận, thời hạn ký h p đồng chuyển như ng là sau 03 (Ba) tháng kể từ ngày ký h p đồng đặt cọc. Giá trị chuyển như ng lô đất là 560.000.000 đồng (Năm trăm sáu mươi triệu đồng). au khi nhận tiền đặt cọc, ông V1 đã cho ông S làm xư ng cưa để làm nghề tr n đất.

Khi nộp đủ tiền sử dụng đất, ngày 18/12/2017, ông V1 đư c Ủy ban nh n d n thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền s hữu nhà và tài sản khác gắn liền v i đất số CH495661, thửa đất 138, tờ bản đồ 13, diện tích: 100 m2 loại đất đô thị tọa lạc tại khối P, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam.

Đến ngày 24/2/2018, ông V1 và ông S tiếp tục ký h p đồng sửa đ i, b sung h p đồng đặt cọc đã ký vào ngày 15/11/2017. Theo h p đồng đặt cọc sửa đ i, b sung này thì ông S đã đặt cọc th m cho ông V1 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng). T ng số tiền ông S đã đặt cọc cho ông V1 để nhận chuyển như ng thửa đất n u tr n là 250.000.000 đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng). Và thời hạn ký h p đồng chuyển như ng cũng đư c sửa đ i thành 07 (Bảy) tháng kể từ ngày ký h p đồng đặt cọc sửa đ i, b sung. Khi ông V1 nhận tiền đặt cọc, tất cả thành vi n trong gia đình đều biết về việc này và đã thống nhất chuyển như ng lô đất này cho ông Trần Văn S.

Tuy nhi n, đến thời điểm chuyển như ng thì con trai ông V1 là Trần Văn H lại không thống nhất n n không thể ký h p đồng chuyển như ng quyền sử dụng đất đối v i lô đất này cho ông Trần Văn S. Sau nhiều lần thuyết phục, ông Huỳnh v n không đồng ý.

Do đó, y u cầu T a án nh n d n thành phố H giải quyết chia tài sản chung của hộ gia đình là quyền sử dụng đất đối v i thửa đất số 138, tờ bản đồ số 13, diện tích 100m2, loại đất đô thị, vị trí thửa đất: tại khối P, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 495661 do Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày 18/12/2017); chia thành 05 (Năm) phần bằng nhau. Ông Trần Văn V1 đề nghị đư c nhận bằng hiện vật (thửa đất số 138) và thanh toán phần giá trị tài sản cho các thành vi n khác c n lại trong hộ.

Tại bản trình bày ngày 08/5/2021, trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn, ông Trần Văn H trình bày:

Ba ông là Trần Văn V1 (sinh năm 1939, chết năm 2020) có v tên L Thị T4 (sinh năm 1940, chết năm 1989). Ba mẹ ông có tất cả 08 người con: Chị Trần Thị Kim L, anh Trần Văn L1 (sinh năm 1965, chết năm 2017) có v là: chị Nguyễn Thị Như T1 và 02 con là: cháu Trần Công C và cháu Trần Công A1; chị Trần Thị Cẩm V2; chị Trần Thị Thạch G; anh Trần Văn A; chị Trần Thị Túy V3; anh Trần Văn T và Trần Văn H.

Khi ba ông mất đi, ba ông có để lại di chúc. Nội dung di chúc đúng y đơn y u cầu độc lập của ông Trần Văn S. Di sản ba ông để lại là thửa đất số 138, tờ bản đồ số 13, diện tích 100m2, loại đất đô thị, vị trí thửa đất: tại khối P, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 495661 do Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày 18/12/2017). Tuy trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Trần Văn V1, nhưng thực tế, ông, v ông, bà Đặng Thị M, hai con gái ông Trần Thị N và Trần Thị Thanh H1 không có đóng góp gì trong khối tài sản này của ông V1. Ba ông Trần Văn V1 kh i kiện ông để y u cầu chia tài sản chung là thửa đất này là vì vư ng thủ tục chuyển như ng thửa đất tr n cho ông S chứ thực tế giữa ông và ông V1 không hề có m u thuẩn gì. Nay ba ông mất đi, vụ kiện giữa ba ông và ông v n còn tồn tại. Giữa anh chị em ông cũng không hề có m u thuẩn gì. Ông mong muốn anh chị em là những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông V1 rút đơn kh i kiện để chấm dứt vụ kiện này T a án.

Đối v i y u cầu độc lập của ông S về việc chia thừa kế theo di chúc, quá trình thực hiện việc chuyển như ng thửa đất tr n có vư ng về mặt thủ tục do Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng t n hộ Trần Văn V1. Do đó, ba ông đã thực hiện nhiều lần kh i kiện để qua việc kh i kiện, xác định đư c người sử dụng đất đư c Ủy ban nh n d n thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là ai. Thực tế giữa hai bên không có tranh chấp, m u thuẩn gì. Trong qua trình kh i kiện, ông V1 tu i cao, lại mang bệnh hiểm nghèo. Do đó, ba ông s khi ông mất đột ngột, quyền l i của ông S không đảm bảo n n đã tự tay viết di chúc tr n, giao lại thửa đất cho ông S, ông S thực hiện việc thanh toán đủ tiền. Ông thống nhất nếu ông S nhận thửa đất tr n thì phải thối trả lại cho anh em ông số tiền h p lý để chia đều cho các đồng thừa kế.

Tại các bảng trình bày ý kiến, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, bà Đặng Thị M, chị Trần Thị N và cháu Trần Thị Thanh H1, đại diện, ông Trần Văn H trình bày:

Thống nhất ý kiến trình bày của ông Trần Văn H về y u cầu kh i kiện của ông Trần Văn V1 và y u cầu độc lập của ông Trần Văn S. Thống nhất thửa đất số: 138, tờ bản đồ số 13, diện tích 100m2, loại đất đô thị, vị trí thửa đất: tại khối P, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 495661 do Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày 18/12/2017) là di sản của ông Trần Văn V1 để lại. Ông Trần Văn H, bà Đặng Thị M, chị Trần Thị N và cháu Trần Thị Thanh H1 không có đóng góp gì trong khối tài sản này của ông V1. Thống nhất giao thửa đất tr n cho ông S như di chúc ông V1 để lại, ông S phải thối trả phần chưa thực hiện để chia đều có các đồng thừa kế.

Tại đơn yêu cầu độc lập ngày 19/4/2021, bản trình bày ý kiến ngày 08/5/2020, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, ông Trần Văn S và đại diện, bà Mai Thị T1 trình bày:

Khi thực hiện dự án khu đô thị Phư c Trạch - Phư c Hải, Ủy ban nh n d n thành phố H giải quyết cho ông Trần Văn V1 đư c mua một lô đất tái định cư và phải nộp 100 tiền sử dụng đất. Ngày 16/6/2017, Ủy ban nh n d n thành phố H có Thông báo số: 503/TB-UBND v/v nộp tiền sử dụng đất nhưng ông V1 không có tiền n n qua lời gi i thiệu của ông Trần Văn H (con trai ông V1), ông S và ông V1 có thỏa thuận về việc ông V1 chuyển như ng lô đất tr n cho ông S và ông S sẽ giao tiền để cho ông V1 nộp tiền sử dụng đất cho Nhà nư c.

Ngày 15/11/2017, hai bên thống nhất giá trị chuyển như ng là 560.000.000 đồng (Năm trăm sáu mươi triệu đồng), ông S đặt cọc 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng), chờ cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì sẽ tiến hành thực hiện thủ tục chuyển như ng. au khi ký h p đồng đặt cọc, ông V1 cho phép ông S dựng trại mộc tr n thửa đất này để làm ăn, sinh sống. Đến ngày 24/02/2018, ông V1 v n chưa hoàn thành các thủ tục n n hai b n v n chưa thể ký h p đồng chuyển như ng. Ông V1 y u cầu đặt đọc th m 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) và ký lại H p đồng đặt cọc. T ng số tiền ông S đã đặt cọc là 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng), số tiền c n lại là 310.000.000 đồng. au khi đư c cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hai bên tiến hành làm thủ tục ký H p đồng chuyển như ng thì vư ng thủ tục pháp lý. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng t n hộ ông Trần Văn V1, v ông V1 là bà L Thị T4 đã chết năm 1989 n n theo hư ng d n của Văn ph ng Công chứng, phải làm thủ tục ph n chia di sản thừa kế theo quy định thì con của ông V1 là ông Trần Văn A không ký vào hồ sơ. Do đó, việc chuyển như ng không thành. Ông V1 đã kh i kiện ông A, y u cầu Tòa án nhân dân thành phố H chia thừa kế đối v i phần di sản của bà Tư để lại tại thửa đất 138, tờ bản đồ 13, diện tích 100m², loại đất đô thị tại khối P, phường C, thành phố H. Tuy nhiên, Tòa án nhân dân thành phố H xác định thửa đất không phải là tài sản thừa kế của bà T4 n n không chấp nhận toàn bộ y u cầu kh i kiện của ông V1. Bản án tr n đã có hiệu lực pháp luật. Do v n chưa xác định đư c hộ ông Trần Văn V1 gồm những ai, ông V1 muốn giữ lời hứa v i ông S, muốn chuyển như ng lô đất này cho ông theo H p đồng đã ký nên ông V1 tiếp tục kh i kiện ông Trần Văn H, là người con sống chung v i ông V1 để y u cầu Tòa án nhân dân thành phố H chia tài sản chung là quyền sử dụng đất của hộ gia đình.

Vì vụ việc kéo dài từ năm 2017, bản th n ông V1 tu i già, sức yếu, lại mắc bệnh hiểm nghèo, để tránh trường h p không hay xảy ra, n n ngày 18/3/2020, ông V1 có để lại Di chúc, thể hiện nguyện vọng của mình đối v i thửa đất này. Cụ thể: ông cho ông S đư c hư ng toàn bộ quyền sử dụng đất tại thửa đất 138, tờ bản đồ 13, diện tích 100m², loại đất đô thị tại khối P, phường C, thành phố H và ông S phải có nghĩa vụ thanh toán tiền bạc trư c khi nhận di sản. Giá trị quyền sử dụng đất n u tr n đư c tạm tính (theo giá trị thỏa thuận chuyển như ng trong h p đồng đặt cọc) là 560.000.000 đồng (Năm trăm sáu mươi triệu đồng), ông S đã đặt cọc 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng). Ông S phải thanh toán số tiền c n lại là 310.000.000 đồng (Ba trăm trăm mười triệu đồng) cho các đồng thừa kế của ông Trần Văn V1. Do đó, ông S y u cầu chia tài sản là di sản của ông Trần Văn V1 để lại đối v i quyền sử dụng đất tại thửa đất 138, tờ bản đồ 13, diện tích 100 m2 tại khối P, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 495661 do Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày 18/12/2017) cho ông S theo Di chúc mà ông Trần Văn V1 lập vào ngày 18/3/2020. Tại phi n t a, ông S hứa sẽ thanh toán cho các đồng thừa kế của ông V1 số tiền là: 720.000.000 đồng (Bảy trăm hai mươi triệu đồng).

Tại các biên bản lấy lời khai, trong quá trình giải quyết vụ án, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, bà Trần Thị Kim L, bà Trần Thị Cẩm V2, bà Trần Thị Thạch G, ông Trần Văn A, bà Trần Thị Túy V3, ông Trần Văn T, anh Trần Công C, cháu Trần Công A1 (bà Nguyễn Thị Như T1 đại diện) trình bày:

Mọi người thống nhất ý kiến trình bày của ông Trần Văn H về hoàn cảnh gia đình của ông Trần Văn V1; thống nhất di sản ông V1 để lại là thửa đất số 138, tờ bản đồ số 13, diện tích 100m2, loại đất đô thị, vị trí thửa đất: tại khối P, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 495661 do Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày 18/12/2017); thống nhất việc ông Trần Văn V1 kiện ông H là không đúng và mong muốn chấm dứt việc kiện đối v i ông H.

Đối v i y u cầu độc lập của ông Trần Văn S, mọi người có ý kiến nếu ông S không nhận thửa đất tr n thì sẽ chuyển như ng thửa đất để thối trả lại phần cho ông S là 700.000.000 đồng, phần c n lại chia đều cho tất cả các đồng thừa kế.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Nam trình bày quan điểm:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý đến ngày đưa vụ án ra xét xử và m phi n t a, Thẩm phán, Thư ký đư c ph n công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng d n sự, Hội đồng xét xử đã thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng d n sự. Đối v i những người tham gia tố tụng, các đương sự phần l n đều có ý thức chấp hành pháp luật tốt, một số đương sự không chấp hành giấy triệu tập của T a án, không tham gia phi n t a mà không có lý do, chấp hành pháp luật chưa nghi m.

Về dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: căn cứ khoản 2 và khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng khoản 1 Điều 102, khoản 1 Điều 212, Điều 624, Điều 625, Điều 626, Điều 627, Điều 630, Điều 631, Điều 633, điểm a khoản 2 Điều 650 và Điều 652 Bộ luật d n sự năm 2015; căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

1. Không chấp nhận y u cầu kh i kiện của nguy n đơn, ông Trần Văn V1 về việc chia tài sản chung là thửa đất số 138, tờ bản đồ số 13, diện tích 100m2, loại đất đô thị, tọa lạc tại khối P, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam.

2. Chấp nhận toàn bộ y u cầu độc lập của người có quyền l i và nghĩa vụ li n quan, ông Trần Văn S về chia di sản thừa kế của ông Trần Văn V1 đối v i thửa đất số 138, tờ bản đồ số 13, diện tích 100m2, loại đất đô thị, tọa lạc tại khối P, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam.

3. Giao cho ông Trần Văn S toàn quyền quản lý, sử dụng và định đoạt đối v i thửa đất số 138, tờ bản đồ số 13, diện tích 100m2, loại đất đô thị, tọa lạc tại khối P, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam.

4. Ông Trần Văn S có trách nhiệm thanh toán lại phần giá trị di sản c n lại cho những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông Trần Văn V1.

5. Đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

au khi nghi n cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đư c thẩm tra tại phi n t a và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phi n t a, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Theo đơn kh i kiện,ông Trần Văn V1 kiện ông Trần Văn H về việc chia tài sản chung; ông Trần Văn S có y u cầu độc lập về việc chia thừa kế di sản của ông Trần Văn V1 . Đ y là các tranh chấp dân sự về việc: “Tranh chấp chia tài sản chung và tranh chấp về thừa kế tài sản ” đư c quy định tại khoản 2 và khoản 5 Điều 26 Bộ luật tố tụng d n sự.

Ông Trần Văn H cư trú tại khối T, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Nam theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trư c khi m phi n t a, T a án đã tống đạt, thông báo h p lệ các văn bản tố tụng của T a án cho tất cả các đương sự. Tại phi n t a, bị đơn, ông Trần Văn H, người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguy n đơn, cũng là người có quyền và nghĩa vụ li n quan: bà Trần Thị Cẩm V2, bà Trần Thị Thạch G, ông Trần Văn A, ông Trần Văn T; người có quyền và nghĩa vụ li n quan:bà Đặng Thị M, chị Trần Thị N, cháu Trần Thị Thanh H1 (đại diện là ông Trần Văn H) vắng mặt, không có lý do; người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguy n đơn, cũng là người có quyền và nghĩa vụ li n quan: bà Trần Thị Kim L, bà Trần Thị Túy V3, anh Trần Công C và cháu Trần Công A1 (Đại diện là bà Nguyễn Thị Như T1) có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, T a án nh n d n thành phố H căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng d n sự xét xử vắng mặt họ.

Về nội dung vụ án:

Ông Trần Văn V1 có thửa đất nuôi trồng thủy sản tại phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Khi thực hiện dự án khu đô thị Phư c Trạch - Phư c Hải, diện tích đất tr n bị Nhà nư c thu hồi toàn bộ. Theo chính sách của Nhà nư c, ông V1 làm đơn xin giao đất và đư c Ủy ban nh n d n thành phố H thống nhất giao một lô đất tái định cư và phải nộp 100 tiền sử dụng đất. Do không có tiền để nộp vào Ng n sách Nhà nư c, ông V1 thỏa thuận v i ông S về việc chuyển như ng lô đất trên cho ông S và ông S sẽ giao tiền để cho ông V1 nộp tiền sử dụng đất cho Nhà nư c. Ngày 15/11/2017, hai b n lập H p đồng đặt cọc, tài sản đặt cọc là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng), để đảm bảo việc giao kết và thực hiện H p đồng chuyển như ng quyền sử dụng đất và xác định giá trị chuyển như ng thửa đất là 560.000.000 đồng (Năm trăm sáu mươi triệu đồng). Ngay thời điểm ký H p đồng đặt cọc, ông Trần Văn V1 cho phép ông S dựng trại mộc tr n thửa đất này để làm ăn, sinh sống. Ông V1 nhận tiền cọc của ông S, giao tiền cho con trai là ông H đi nộp tiền vào ng n sách nhà nư c. Ngày 18/12/2017, Ủy ban nh n d n thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Trần Văn V1 đối v i thửa đất số 138, tờ bản đồ số 13, diện tích 100m2, loại đất đô thị, vị trí thửa đất: tại khối P, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 495661). Ngày 24/02/2018, hai b n ký kết H p đồng sửa đ i, b sung H p đồng đặt cọc, nội dung điều chỉnh tài sản đặt cọc là 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng) do ông S đưa th m 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) tiền cọc. Và xác định số tiền c n lại là 310.000.000 đồng (Ba trăm mười triệu đồng) sẽ đư c ông S giao ngay khi hai b n ký kết xong H p đồng chuyển như ng.

Quá trình tiến hành thủ tục chuyển như ng quyền sử dụng đất cho ông S, thì vư ng thủ tục pháp lý. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng t n hộ ông Trần Văn V1, v ông V1 là bà Lê Thị T4 đã chết năm 1989 n n theo hư ng d n của Văn ph ng Công chứng, phải làm thủ tục ph n chia di sản thừa kế theo quy định, con trai của ông V1 là ông Trần Văn A không ký vào hồ sơ n n việc chuyển như ng không thành. Ông V1 đã kh i kiện ông A, y u cầu Tòa án nhân dân thành phố H chia thừa kế đối v i phần di sản của bà Tư để lại tại thửa đất 138, tờ bản đồ 13, diện tích 100m², loại đất đô thị tại khối P, phường C, thành phố H. Tại bản án số: 72/2019/DS-ST ngày 19/11/2029, T a án nh n d n thành phố H xác định thửa đất không phải là di sản thừa kế của bà Tư n n không chấp nhận toàn bộ y u cầu kh i kiện của ông V1. Bản án tr n đã có hiệu lực pháp luật. Do v n chưa xác định đư c hộ ông Trần Văn V1 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 495661 gồm những ai, việc chuyển như ng quyền sử dụng đất giữa ông V1 và ông S v n gặp tr ngại. Do đó, muốn giữ lời hứa v i ông S, muốn chuyển như ng lô đất này cho ông theo H p đồng đã ký n n ông V1 tiếp tục kh i kiện con trai là ông Trần Văn H, là người con sống chung trong hộ gia đình v i ông V1 để y u cầu Tòa án nh n d n thành phố H chia tài sản chung là quyền sử dụng đất của hộ gia đình.

Xét y u cầu của ông Trần Văn V1 về việc chia tài sản chung của hộ gia đình là quyền sử dụng đất đối v i thửa đất số 138, tờ bản đồ số 13, diện tích 100m2, loại đất đô thị, vị trí thửa đất: tại khối P, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 495661 do Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày 18/12/2017); chia thành 05 (Năm) phần bằng nhau. Ông Trần Văn V1 đề nghị đư c nhận bằng hiện vật (thửa đất số 138) và thanh toán phần giá trị tài sản cho các thành vi n khác c n lại trong hộ thì thấy:

Do không thể tự xác định đư c những người đư c Ủy ban nhân dân thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất tr n cho“hộ ông Trần Văn V1” gồm những ai; ông V1 lại rất muốn chuyển như ng quyền sử dụng thửa đất tr n cho ông Trần Văn S như hai b n đã thỏa thuận, do đó, ông V1 đã dựng nên việc tranh chấp v i ông Trần Văn H để đư c T a án giải quyết. Thực tế giữa ông V1 và ông H không hề có tranh chấp. Quá trình giải quyết tại T a án, theo Công văn số: 124/UBND ngày 15/01/2021, và Công văn số: 12/BC-CATP(CS1) ngày 04/01/2021 của Công an thành phố H, tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 18/12/2017, hộ ông Trần Văn V1 gồm có ông Trần Văn V1, ông Trần Văn H, bà Đặng Thị M, chị Trần Thị Na và cháu Trần Thị Thanh H1. Quá trình giải quyết tại T a án, ông H, bà M, chị N và đại diện cháu H1 là ông H, bà M đều xác định thửa đất tr n là của một mình ông V1, họ không có bất cứ đóng góp nào. Tất cả những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông V1 đều thừa nhận thửa đất tr n là của ri ng ông V1 và xác định việc kh i kiện của ông V1 đối v i ông H là không đúng, ai cũng mong muốn chấm dứt việc kiện giữa hai b n. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 102, khoản 1 Điều 212 Bộ luật d n sự, xác định thửa đất số 138, tờ bản đồ số 13, diện tích 100m2, loại đất đô thị, vị trí thửa đất: tại khối P, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 495661 do Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày 18/12/2017) là tài sản của một mình ông V1. Do đó, không chấp nhận toàn bộ y u cầu kh i kiện của ông V1 về việc chia tài sản chung của hộ gia đình là quyền sử dụng thửa đất nói tr n.

Xét y u cầu độc lập của ông Trần Văn S y u cầu chia di sản của ông Trần Văn V1 để lại là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 138, tờ bản đồ số 13, diện tích 100 m2 tại khối P, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 495661 do UBND thành phố H cấp ngày 18/12/2017) cho ông Trần Văn S theo di chúc mà ông Trần Văn V1 lập ngày 18/3/2020 thì thấy:

Ngày 01/8/2020, ông Trần Văn V1 chết (Giấy chứng tử số: 35/2020 do Ủy ban nhân dân phường C cấp ngày 09/9/2020). Ông V1 có tất cả 08 (Tám) người con: bà Trần Thị Kim L, ông Trần Văn L1 (sinh năm 1965, chết năm 2017, có v là: bà Nguyễn Thị Như T1 và 02 con là: anh Trần Công C và cháu Trần Công A1); bà Trần Thị Cẩm V2; bà Trần Thị Thạch G; ông Trần Văn A; bà Trần Thị Túy V3; ông Trần Văn T và ông Trần Văn H. Đ y là những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Trần Văn V1, ngoài ông H ra, họ cũng là những người có quyền l i và nghĩa vụ li n quan trong vụ án.

Ông V1 chết đi, di sản để lại là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 138, tờ bản đồ số 13, diện tích 100m2, loại đất đô thị, vị trí thửa đất: tại khối P, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 495661 do Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày 18/12/2017), có tứ cận như sau:

+ Phía Bắc:

Giáp đường quy hoạch rộng 10m, có cạnh dài 5m.

+ Phía Nam:

Giáp đất dự trữ, có cạnh dài 5m.

+ Phía Đông:

Giáp thửa ODT 137, cạnh dài 20m.

+ Phía Tây:

Giáp thửa ODT 139, cạnh dài 20m.

Theo di chúc ông V1 lập ngày 18/3/2020, do thủ tục chuyển như ng quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn S chưa hoàn tất, ông V1 tu i ngoài 80, trong người lại mắc bệnh nan y, không biết trư c đư c điều gì xảy ra, nguyện vọng của ông là phải chuyển như ng thửa đất tr n cho ông Trần Văn S như đã hứa và thuốc thang trong quãng đời c n lại. Do đó, ông lập di chúc có nội dung:..“khi tôi qua đời ông S sẽ được hưởng toàn bộ của tôi nêu trên. Ông S được làm thủ tục theo quy định của pháp luật, để được đứng tên tài sản nói trên theo di chúc này.

Ngoài ông Trần Văn S, tôi không để lại di sản thừa kế trên cho bất cứ ai khác. Không ai có quyền tranh chấp, khiếu nại về sau”.

Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự thống nhất di chúc của ông V1, không ai có ý kiến gì và đều mong muốn đư c nhận phần di sản c n lại của ông V1 để chia đều cho các đồng thừa kế.

Hội đồng xét xử thấy rằng di chúc của ông Trần Văn V1 đảm bảo các quy định tại Điều 624, Điều 625, Điều 626, Điều 627, Điều 630, Điều 631 và Điều 633 Bộ luật d n sự. Do đó, chấp nhận y u cầu của ông Trần Văn S, chia thừa kế theo di chúc đối v i di sản của ông V1 để lại là thửa đất số 138, tờ bản đồ số 13, diện tích 100m2, loại đất đô thị, vị trí thửa đất: tại khối P, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam cho ông S. Quá trình chuẩn bị xét xử, các đương sự đã nhiều lần thỏa thuận v i nhau về việc giao nhận di sản và thối trả phần ch nh lệch. Ông Trần Văn S lúc mong muốn nhận thửa đất, lúc muốn các đồng thừa kế thối trả lại bằng tiền. Tại phi n t a hôm nay, ông S có nguyện vọng đư c nhận thửa đất và thối trả lại cho các đồng thừa kế số tiền là 720.000.000 đồng (Bảy trăm hai mươi triệu đồng).

Hội đồng xét xử thấy rằng, di nguyện của ông Trần Văn V1 là muốn giao thửa đất tr n cho ông S. Hiện tại tr n thửa đất, ông S đư c sự cho phép của ông V1 đã dựng một căn nhà tạm trụ gỗ bạc hà bao quanh là vách tôn + lư i B40, mái l p tôn, nền lót xi măng, ô tơ cao 2,55m. Do đó, n n giao thửa đất số 138, tờ bản đồ số 13, diện tích 100m2, loại đất đô thị, vị trí thửa đất: tại khối P, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam là di sản của ông V1 cho ông S trọn quyền sử dụng là đúng quy định, phù h p v i ý chí, nguyện vọng của người để lại di sản.

Đối v i số tiền ch nh lệch khi thỏa thuận chuyển như ng ông S c n phải thanh toán cho ông V1, Hội đồng xét xử thấy rằng số tiền này không đư c ông V1 định đoạt trong di chúc. Trong di chúc ngày 18/3/2020, ông V1 chỉ y u cầu: “ông S phải thanh toán đủ trước khi nhận di chúc”. Do đó, đ y là phần di sản không đư c định đoạt trong di chúc n n căn cứ điểm a khoản 2 Điều 650 Bộ luật d n sự, Hội đồng xét xử chia di sản này theo pháp luật. Hội đồng xét xử thấy rằng, theo H p đồng đặt cọc mà ông V1 và ông S thỏa thuận, ông S chưa thanh toán số tiền 310.000.000 đồng (Ba trăm mười triệu đồng) cho ông V1. Quá trình hai b n tiến hành làm thủ tục chuyển như ng, ông S có hứa sẽ thanh toán th m cho ông V1 số tiền là: 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng). Tại phi n t a hôm nay, ông S tự nguyện thanh toán cho các đồng thừa kế của ông V1 là 720.000.000 đồng (Bảy trăm hai mươi triệu đồng). Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của ông S về việc thanh toán cho những người thừa kế của ông Trần Văn V1 số tiền trên, chia đều cho hàng thừa kế thứ nhất của ông V1 là 08 người con là bà Trần Thị Kim L, ông Trần Văn L1, bà Trần Thị Cẩm V2, bà Trần Thị Thạch G, ông Trần Văn A, bà Trần Thị Túy V3, ông Trần Văn T và ông Trần Văn H, mỗi người là: 720.000.000 đồng : 8 = 90.000.000 đồng (Chín mươi triệu đồng); trong đó, do ông Lập chết trư c ông V1 n n căn cứ Điều 652 Bộ luật d n sự, anh Trần Công C và cháu Trần Công A1 là những người đư c hư ng thừa kế thế vị của ông Lập n n mối người đư c nhận 90.000.000 đồng : 2 = 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng).

Tại bi n bản định giá ngày 20/7/2021, thửa đất số 138, tờ bản đồ số 13, diện tích 100m2, loại đất đô thị, vị trí thửa đất: tại khối P, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam theo giá thị trường có giá trị là 1.500.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm triệu đồng). Ông S tự nguyện thối trả phần giá trị ch nh lệch là: 720.000.000 đồng (Bảy trăm hai mươi triệu đồng), như vậy, phần di sản ông S đư c nhận phải chịu án phí có giá trị là: 780.000.000 đồng (Bảy trăm tám mươi triệu đồng).

Án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T a án; Điều 2 Luật người cao tu i; ông Trần Văn V1 đư c miễn toàn bộ án phí d n sự sơ thẩm. Những đương sự c n lại phải chịu án phí d n sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Cụ thể:

Ông Trần Văn S phải nộp: 20.000.000 đồng + 4 x (780.000.000 đồng-400.000.000 đồng) = 35.200.000 đồng, nhưng đư c trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 13.200.000 đồng (Mười ba triệu hai trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005125 ngày 20 tháng 4 năm 2021 của Chi cục Thi hành án d n sự thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Ông S c n phải nộp 22.000.000 đồng (Hai mươi hai triệu đồng) án phí d n sự sơ thẩm.

Bà Trần Thị Kim L, bà Trần Thị Cẩm V2; bà Trần Thị Thạch G, ông Trần Văn A, bà Trần Thị Túy V3, ông Trần Văn T và ông Trần Văn H mỗi người phải nộp: 5% x 90.000.000 đồng = 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng).

Anh Trần Công A1 và cháu Trần Công C mỗi người phải nộp: 5% x 45.000.000 đồng = 2.250.000 đồng (Hai triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).

Chi phí thẩm định, định giá tài sản: Ông Trần Văn S tự nguyện nộp toàn bộ chi phí định giá là 2.400.000 đồng n n Hội đồng xét xử chấp nhận (đã nộp đủ).

Đối v i căn nhà tạm do ông Trần Văn S dựng tr n thửa đất số 138, không ai có tranh chấp về căn nhà này n n Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 và khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng khoản 1 Điều 102, khoản 1 Điều 212, Điều 624, Điều 625, Điều 626, Điều 627, Điều 630, Điều 631, Điều 633, điểm a khoản 2 Điều 650 và Điều 652 Bộ luật d n sự năm 2015.

Căn cứ Điều 12 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T a án.

Tuy n xử:

1/ Không chấp nhận toàn bộ y u cầu kh i kiện của nguy n đơn, ông Trần Văn V1 đối v i bị đơn, ông Trần Văn H về việc chia tài sản chung của hộ gia đình là quyền sử dụng đất đối v i thửa đất số 138, tờ bản đồ số 13, diện tích 100m2, loại đất đô thị, vị trí thửa đất: tại khối P, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 495661 do Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày 18/12/2017).

2/ Chấp nhận toàn bộ y u cầu độc lập của ông Trần Văn S về việc chia di sản của ông Trần Văn V1 để lại là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 138, tờ bản đồ số 13, diện tích 100 m2 tại khối P, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 495661 do UBND thành phố H cấp ngày 18/12/2017) cho ông Trần Văn S theo di chúc mà ông Trần Văn V1 lập ngày 18/3/2020.

Giao cho ông Trần Văn S trọn quyền sử dụng thửa đất số 138, tờ bản đồ số 13, diện tích 100m2, loại đất đô thị, vị trí thửa đất: tại khối P, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 495661 do Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày 18/12/2017), có tứ cận như sau:

+ Phía Bắc:

Giáp đường quy hoạch rộng 10m, có cạnh dài 5m.

+ Phía Nam:

Giáp đất dự trữ, có cạnh dài 5m.

+ Phía Đông:

Giáp thửa ODT 137, cạnh dài 20m.

+ Phía Tây:

Giáp thửa ODT 139, cạnh dài 20m.

(Có sơ đồ trích đo thửa đất kèm theo).

Ông Trần Văn S có trách nhiệm thanh toán lại cho những đồng thừa kế của ông Trần Văn V1 như sau: Thối trả cho bà Trần Thị Kim L, bà Trần Thị Cẩm V2, bà Trần Thị Thạch G, ông Trần Văn A, bà Trần Thị Túy V3, ông Trần Văn T và ông Trần Văn H mỗi người số tiền là: 90.000.000 đồng (Chín mươi triệu đồng); thanh toán cho anh Trần Công C và cháu Trần Công A1 mỗi người số tiền là: 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền được trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3/ Chi phí thẩm định, định giá tài sản: Ông Trần Văn S tự nguyện nộp 2.400.000 đồng (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng, đã nộp đủ).

4/ Án phí D n sự sơ thẩm:

Ông Trần Văn V1 đư c miễn phí d n sự sơ thẩm.

Ông Trần Văn S phải nộp 35.200.000 đồng, nhưng đư c trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 13.200.000 đồng (Mười ba triệu hai trăm nghìn đồng) theo bi n lai thu số 0005125 ngày 20 tháng 4 năm 2021 của Chi cục Thi hành án d n sự thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Ông S c n phải nộp 22.000.000 đồng (Hai mươi hai triệu đồng) án phí d n sự sơ thẩm.

Bà Trần Thị Kim L, bà Trần Thị Cẩm V2, bà Trần Thị Thạch G, ông Trần Văn A, bà Trần Thị Túy V3, ông Trần Văn T và ông Trần Văn H mỗi người phải nộp 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng).

Anh Trần Công C và cháu Trần Công A1 mỗi người phải nộp 2.250.000 đồng (Hai triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).

Các đương sự có mặt tại phi n t a có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuy n án (24/9/2021). Những đương sự có quyền kháng cáo vắng mặt tại phi n t a có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án đư c tống đạt h p lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ