vanban.org

Bản án 76/2020/QĐST-DS — Y/c thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 20/03/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Trương Thị C: Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà Trương Thị Thu H, sinh năm 1964; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: 613B/11 Đường B, phường C, quận T, thành phố H

2/ Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) bà Trương Thị C phải chịu, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0012466 ngày 03/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận 8. Bà C đã nộp đủ lệ phí dân sự s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó — án dân sự — "Trương Thị C"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Trương Thị C: Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà Trương Thị Thu H, sinh năm 1964; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: 613B/11 Đường B, phường C, quận T, thành phố H
  • Căn cứ chính? Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 76/2020/QĐST-DSQuận 8, ngày 20 tháng 3 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 – THÀNH PHỐ HỔ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Thị Thuý Minh

Thư ký phiên họp: Ông Trần Ngọc Tuyền - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Ngô Thị Kim Sinh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 509/2019/TLST-DS ngày 09 tháng 12 năm 2019 về việc “Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 25/2020/QĐST-DS ngày 06 tháng 3 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Trương Thị C, sinh năm 1957;

Địa chỉ: A1/35 KP1, phường T, thành phố B, tỉnh Đ .

Người đại diện uỷ quyền của người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Ông Lý Khánh H, sinh năm: 1974;

Địa chỉ: 210C/21 KP2, phường T, thành phố B, tỉnh Đ.

(Giấy ủy quyền ngày 5/9/2019 lập tại Uỷ ban nhân dân Phường Bình Đa, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Bà Trương Thị C yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà Trương Thị Thu H, sinh năm 1964; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: 613B/11 Đường B, phường C, quận T, thành phố H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên họp,Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Căn cứ vào Thông báo về việc thụ lý vụ án số 278/TB-TLVA ngày 21/5/2018 của Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tình Đồng Nai và Hộ khầu tại địa chỉ A1/35 KP1, phường T, thành phố B, tỉnh Đ, cho thấy bà Trương Thị C và bà Trương Thị Thu H có quan hệ chị em ruột và bà H là bị đơn trong vụ án dân sự sơ thẩm về việc : Tranh chấp chia di sản thừa kế, với bà Trương Thị C là nguyên đơn cho thấy giữa bà C và bà H có quyền, lợi ích liên quan đến nhau. Bà C yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà Trương Thị Thu H. Do đó, xác định đây là việc dân sự về “yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” theo quy định tại khoản 2 Điều 27 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Nơi cư trú cuối cùng của bà Trương Thị Thu H tại Quận 8 nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng:

Người đại diện uỷ quyền của người yêu cầu - ông Lý Khánh H có đơn xin vắng mặt tại phiên họp nên căn cứ vào khoản 2 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành giải quyết việc dân sự vắng mặt bà Trương Thị C và ông Lý Khánh H.

Về yêu cầu của đương sự:

Theo Đơn yêu cầu và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, người yêu cầu là bà Trương Thị C có người đại diện theo ủy quyền của bà C là ông Lý Khánh H trình bày: Bà Trương Thị C là chị ruột của bà Trương Thị Thu H, bà Ccó đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế tại Toà án nhân dân thanh phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai. Trong quá trình giải quyết vụ án Toà án không triệu tập được bà Trương Thị Thu H đến Toà để tham gia giải quyết vụ án. Toà án đã xác minh nơi cư trú của bà H tại địa chỉ 613B/11 Ba Đình, phường 9, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh và biết được bà H đã bán nhà, bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2017 đến nay, không rõ đi đâu. Bà Trương Thị C yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà Trương Thị Thu H để Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai có cơ sở tiếp tục giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm về việc : Tranh chấp chia di sản thừa kế. Bà C không có yêu cầu áp dụng biện pháp quản lý tài sản của bà H.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8 tham gia phiên họp phát biểu ý kiến: Đề nghị Tòa án căn cứ vào Điều 64 Bộ luật Dân sự năm 2015 chấp nhận yêu cầu của bà Trương Thị C.

Theo quy định tại Điều 64 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Khi một người biệt tích 06 tháng liền trở lên thì những người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự và có thể yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú quy định tại Điều 65 của Bộ luật này”.

Xét, tại Kết quả xác minh của Công an Phường 9, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh trả lời Phiếu yêu cầu xác minh số 509/YCXM ngày 09/12/2019 của Tòa án nhân dân Quận 8, có nội dung “ Bà Trương Thu H, sinh năm 1964, hộ khẩu thường trú: 613B/11 Đường B, phường C, quận T. Nhà bán từ tháng 7/2017. Hiện không sinh sống tại địa phương, đi đâu không rõ”. Như vậy, bà Trương Thị Thu H đã biệt tích đến nay là trên 06 tháng liền.

Do đó, việc bà Trương Thị C yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà Trương Thị Thu H, cũng như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8 tham gia phiên họp là có căn cứ nên Tòa án chấp nhận.

Về việc quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú: Bà C không có yêu cầu, nên không xem xét.

Về lệ phí dân sự sơ thẩm: Bà Trương Thị C phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 2 Điều 367, Điều 371, Điều 372, khoản 1 Điều 381 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 64 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 26 Luật thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi bổ sung năm 2014;

- Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án.

1/ Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Trương Thị C: Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà Trương Thị Thu H, sinh năm 1964; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: 613B/11 Đường B, phường C, quận T, thành phố H

2/ Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) bà Trương Thị C phải chịu, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0012466 ngày 03/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận 8. Bà C đã nộp đủ lệ phí dân sự sơ thẩm.

3/ Quyền kháng cáo, kháng nghị: Bà Trương Thị C có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết; Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

4/ Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

Cỡ chữ