vanban.org

Bản án 76/2020/HSST — Hình sự

TAND Q. Thanh Khê, TP Đà Nẵng Tuyên án 03/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn Ch phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 1.

Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn trả sau giám định theo Kết luận giám định số 34/GĐ-MT ngày 16.01.2020, có đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng và 01 bao nilong màu đen kích thước 7x17cm. Tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn Ch - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn Ch phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 1.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Bản án số: 76/2020/HSST
Ngày 03 tháng 7 năm 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Hoàng Vũ Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Thu Huệ

Bà Nguyễn Thị Thanh Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Anh - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Anh - Kiểm sát viên. Ngày 03 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng; địa chỉ: Số 48 đường Trần Xuân Lê, phường Hòa Khê, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 74/2020/TLST-HS ngày 04.6.2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2020/QĐXXST-HS ngày 19.6.2020, đối với bị cáo: Họ và tên: Hoàng Văn Ch, sinh ngày 23.12.1981, tại thành phố Đà Nẵng; Nơi ĐKHKTT: Tổ 30, phường A, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng; Chỗ ở: Tổ 20, phường Th, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ văn hóa: 6/12; Con ông Hoàng Văn H và bà Hồ Thị X, đều đã chết; Bị cáo là con duy nhất; Có vợ là Nguyễn Thị Sĩ (sinh năm 1974), có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2010; Tiền án; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt giam (giữ) ngày 10.01.2020, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Ngô Thị V, sinh năm: 1966; Địa chỉ: Tổ 20, phường H, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Sáng ngày 10 tháng 01 năm 2020, tại quán game bắn cá trên đường Nam Trân, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, Hoàng Văn Ch mua của thanh niên tên Ng (chưa rõ lai lịch, địa chỉ) 08 viên ma túy thuốc lắc được chứa trong hộp nhựa màu xanh và 01 gói ni lông bên trong chứa 03 gói ma túy khay với số tiền 6.500.000 đồng. Ch cất giấu số ma túy này vào túi áo trước bên trái với mục đích để sử dụng. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày cũng tại quán game bắn cá trên, Ch được Ng nhờ đem 01 gói ni lông màu đỏ bên trong chứa 05 viên ma túy thuốc lắc và một gói ma túy khay đem đến quán Karaoke Chợt Nhớ đường Nguyễn Tất Thành, thành phố Đà Nẵng để bán cho một người phụ nữ (không rõ lai lịch) với giá 3.000.000 đồng và Ch được trả công 300.000 đồng. Ch đồng ý rồi bỏ số ma túy trên trong hộc xe bên trái phía trước xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo biển kiểm soát 43M1-6661 rồi điều khiển đi đến trước nhà số 547 đường Nguyễn Tất Thành, phường Xuân Hà, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng để bán ma túy cho người phụ nữ trên thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy công an quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng bắt quả tang về hành vi “cất giấu trái phép chất ma túy". Tiến hành kiểm tra phát hiện và thu giữ các vật chứng sau:

- Dưới đất tại vị trí bắt Ch có: 01 gói ni lông màu đỏ có kích thước 04cm x 7cm bên trong có chứa 01 viên nén hình chữ nhật màu da cam bên trên viên có khắc chữ “LV" và 08 mảnh vỡ màu da cam (của 4 viên ma túy), bị vỡ do bị rơi xuống đất, Ch khai là ma túy thuốc lắc của Ch, ký hiệu G1; 01 gói ni lông có kích thước 03cm x 03cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng Ch khai nhận là ma túy khay của Ch ký hiệu G2.

- Thu giữ ở lề đường ngay vị trí Ch bị bắt có 01 hộp nhựa màu xanh bên trong có chứa 08 viên nén màu da cam hình chữ nhật bên trên có khắc chữ LV ký hiệu G3 và 01 gói ni lông màu đen kích thước 07cm x 14cm bên trong có chứa 03 gói ni lông đều chứa tinh thể màu trắng, Ch khai là ma túy khay, ký hiệu G4. Số ma túy này rơi xuống từ trong túi áo của Ch.

- 01 xe máy hiệu Yamaha Nouvo màu đen đỏ biển kiểm soát 43M1-6661, số khung 233856, số máy 233858; 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh bị bể màn hình số Imei 358176102977341 có gắn 02 sim: xxxx.xxxxxx, sim 2: xxxx.xxxxxx; 01 điện thoại di động Nokia màu xanh có số Imei 357723108283413 có gắn 02 sim: sim 1: xxxx.xxxxxx và sim 2: xxxx.xxxxxx và số tiền 3.200.000 đồng. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở Hoàng Văn Ch không thu giữ được gì. Tiến hành thử nước tiểu bằng thanh thử test đối với Hoàng Văn Ch có kết quả dương tính với chất ma túy. Theo kết luận giám định số 34/GĐ-MT ngày 16.01.2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng xác định:

- Các viên nén và mảnh vỡ trong bì niêm phong ký hiệu G1, G3 gửi giám định là ma túy, loại MDMA, khối lượng các viên nén G1: 1,746 gam; G3: 2,953 gam.

- Tinh thể màu trắng trong các gói ni lông trong các bì niêm phong ký hiệu G2, G4 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine; khối lượng tinh thể G2: 0,604 gam; G4: gam; G3: 2,953 gam 4.949 gam. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy của Ch được thể hiện:

- Mua bán 05 viên nén màu da cam hình chữ nhật là ma túy loại MDMA, khối lượng G1: 1,746 gam và 01 gói ni lông bên trong có chứa tinh thể màu trắng là ma túy Ketamin, khối lượng G2: 0,604 gam. Tổng khối lượng 02 chất ma túy là: 1,746 : 5 x 100% + 0,604 : 20 x 100% = 34,92% + 3,02% = 37,94%.

- Tàng trữ 05 viên nén màu da cam hình chữ nhật bên trên là ma túy loại MDMA, khối lượng G3: 2,953 gam và 01 gói ni lông màu đen bên trong có chứa 3 gói ni lông đều chứa tinh thế màu trắng là ma túy Ketamin có khối lượng G4: 4,949 gam. Tổng khối lượng 02 chất ma túy là: (2,953: 5 x100% + 4,949 : 20 x 100%) = 59,06% + 24,745% = 83,805%. Căn cứ theo điểm b khoản 2 Điều 5 Chương II Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự 2015 thì hành vi của Hoàng Văn Ch phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy, thuộc khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, thuộc điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn Ch thừa nhận hành vi phạm tội của mình, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê khởi tố, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê truy tố, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê xét xử bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”’ theo theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng tội, đúng pháp luật. Tại Bản Cáo trạng số: 66/CT-VKS ngày 23.4.2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Hoàng Văn Ch về tội Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa trình bày luận tội và tranh luận: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như quá trình điều tra và truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liều và lời khai của người làm chứng, chứng kiến. Do đó, có căn cứ khẳng định Cáo trạng truy tố bị cáo Hoàng Văn Ch về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật. Căn cứ tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm i khoản 1 Điều 249 điểm s, r khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình xử phạt bị cáo Hoàng Văn Ch về tội mua bán trái phép chất ma túy với với mức án từ 03 đến 04 năm tù và tội tàng trữ trái phép chất ma túy với mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt của hai tội trên từ 05 năm 06 tháng tù đến 07 năm 06 tháng tù. Căn cứ vào khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, áp dụng hình phạt bổ sung, phạt tiền 5 triệu đồng đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng:

- Đối lượng ma túy thu giữ của bị cáo, được hoàn trả sau giám định mẫu (theo Kết luận giám định số 34/GĐ-MT ngày 16.01.2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng) là vật cấm lưu hành, bị cáo sử dụng để phạm tội; đối với 01 bao nilong màu đen kích thước 7x17cm là vật mà bị cáo dùng đựng ma túy. Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động Nokia màu xanh có số Imei 357723108283413 có gắn 02 sim: sim 1: xxxx.xxxxxx và sim 2: xxxx.xxxxxx; 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh bị bể màn hình số Imei 358176102977341 có gắn 02 sim: xxxx.xxxxxx, sim 2: xxxx.xxxxxx và xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo biển kiểm soát 43M1-6661 là tài sản của bị cáo dùng làm phương tiện mua bán ma túy nên Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên nộp vào ngân sách Nhà nước.

- Đối với số tiền 3.200.000 đồng là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên tuyên trả lại cho bị cáo và tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án. Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo khóc và nói sau thời gian bị tạm giam, bị cáo thực sự biết ăn năn và hối cải về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm trở về lo cho gia đình con cái.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

"Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:" [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Thanh Khê, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Xét về hành vi phạm tội của bị cáo: Vào khoảng 15 giờ, ngày 10 tháng 01 năm 2020, tại trước nhà số 547 đường Nguyễn Tất Thành, phường Xuân Hà, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, Hoàng Văn Ch đã có hành vi cất giấu ma túy trong người để chuẩn bị bán cho một người phụ nữ (không rõ lai lich) đang ở quán Karaoke Chợt Nhớ, gần số nhà 547 đường Nguyễn Tất Thành thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng bắt quả tang và thu giữ ở dưới đất, tại vị trí Hoàng Văn Ch đứng 04 gói ma túy được niêm phong và ký hiệu G1, G2, G3 và G4. Hoàng Văn Ch khai nhận, đối với 02 gói ma túy (ký hiệu G1, G2) là của người tên Nghĩa (quê ở Quảng Ngãi) giao cho Ch đi bán giúp cho người phụ nữ với giá 3.000.000 đồng và Ch được trả công là 300.000 đồng; 02 gói ma túy còn lại (ký hiệu G3, G4) là Ch mua của Nghĩa để sử dụng. Theo kết luận giám định 02 gói ma túy G1, G2 có tổng khối lượng là 1,746g, trong đó (G1: 1,746g MDMA, G2: 0,604g Ketamin); 02 gói ma túy (ký hiệu G3, G4) có tổng khối lượng là 7,902g, trong đó (G3: 2,953g MDMA, G4: 4,949g Ketamin). Xét hành vi trên của bị cáo Hoàng Văn Ch đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. [3] Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Tệ nạn ma túy là hiểm họa lớn cho xã hội, gây tác hại cho sức khỏe, làm suy thoái nòi giống, phẩm chất con người, phá hoại hạnh phúc gia đình. Nhà nước đang tập trung mọi nỗ lực nhằm ngăn chặn đẩy lùi tệ nạn này. Mặc dù bị cáo nhận thức được tác hại vô cùng nguy hiểm của ma túy như vậy, nhưng bất chấp pháp luật mua ma túy về tàng trữ để sử dụng và bán lại cho các con nghiện để kiếm lời. Xét hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền về chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội và nguy hiểm hơn là bị cáo đã tiếp tay cho những tệ nạn xã hội và một trong những nguyên nhân hiểm họa gây ra căn bệnh thế kỷ HIV. [4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Căn cứ vào trích lục tiền án, tiền sự của Phòng hồ sơ Công an thành phố Đà Nẵng và lý lịch bị cáo thể hiện, bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa từng có tiền án, tiền sự, sau khi phạm tội và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo và biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng theo quy định tại Điều 50 và điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo mức án phù hợp. [5] Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”, xét bị cáo Hoàng Văn Ch vừa có hành vi mua bán và vừa có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo đã bỏ ra số tiền 6.500.000đ để mua ma túy để sử dụng và nhận ma túy của người khác đi bán để kiếm lời nên Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung, phạt tiền đối với bị cáo là thoả đáng. [6] Về tình tiết giảm nhẹ, tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết tự thú theo quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự cho bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, theo Thông tư liên tich số 02/2001TTLT-TATCVKSTC-BCA-BTP ngày 25-12-2001 quy định “Tự thú” là tự mình nhận tội và khai ra hành vi phạm tội của mình chưa ai phát hiện được mình phạm tội; Theo hướng dẫn tại Công văn số 81/2002/TATC ngày 10.6.2002 của Tòa án nhân dân Tối cao, về việc giải đáp các vấn đề nghiệp vụ hướng dẫn “Nếu người phạm tội tự mình nhận tội và khai ra hành vi phạm tội của mình, trong khi chưa ai phát hiện được mình phạm tội thì áp dung tình tiết giảm nhẹ tự thú”. Theo lời khai của bị cáo tại phiên tòa, biên bản bắt người phạm tội quả tang và trong quá trình điều tra thể hiện, bị cáo bị bắt quả trong trong lúc mang ma túy đến điểm hẹn để giao cho người mua thì bị Công an phát hiện bắt quả tang và bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy của mình, việc khai nhận tội mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo Ch không phải là tình tiết tự thú mà đây là tình tiết thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận với quan điểm luận tội của đại diện Viên kiểm sát về áp dụng tình tiết tự thú cho bị cáo. [7] Về xử lý vật chứng: Đối lượng ma túy thu giữ của bị cáo, được hoàn trả sau giám định mẫu (theo Kết luận giám định số 34/GĐ-MT ngày 16/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng) là vật cấm lưu hành, bị cáo sử dụng để phạm tội; đối với 01 bao nilong màu đen kích thước 7x17cm là vật mà bị cáo dùng đựng ma túy, căn cứ vào điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên tịch thu tiêu hủy; Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh bị bể màn hình số Imer 358176102977341 có gắn 02 sim: xxxx.xxxxxx, sim 2: xxxx.xxxxxx và 01 điện thoại di động Nokia màu xanh có số Imei 357723108283413 có gắn 02 sim: sim 1: xxxx.xxxxxx và sim 2: xxxx.xxxxxx là phương tiện dùng để liên lạc mua bán trái phép chất ma túy, nên cần tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước; Đối với số tiền 3.200.000 đồng, bị cáo khai là tiền chi tiêu cá nhân không sử dụng vào việc mua bán và tàng trữ tái phép chất ma túy, quá trình điều tra và tại phiên tòa không chứng minh được số tiền trên bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần truyên trả lại cho bị cáo. [8] Đối với chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo biển kiểm soát 43M1-6661 thu giữ của bị cáo là do chị Ngô Thị V đứng tên chủ sở hữu. Năm 2017 chị V bán xe cho người khác không rõ tên tuổi, địa chỉ, Ch khai mua xe trên tại cửa hàng mua bán xe cũ trên đường Tôn Đức Thắng, thành phố Đà Nẵng (không rõ địa chỉ) với giá 10.000.000 đồng, có giấy đăng ký xe, không viết giấy mua bán. Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp nhưng vẫn không có ai đến nhận, nên Hộ đồng xét xử có căn cứ xác định lời khai của bị cáo cho rằng mình là người quản lý hợp pháp chiếc xe trên là có căn cứ. Bị cáo đã sử dụng chiếc xe này làm phương tiện để mua bán trái phép chất ma túy, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước. [9] Đối với người tên Ng (quê Quãng Ngãi), theo Ch khai là người bán ma túy cho Ch để tàng trữ sử dụng và giao ma túy cho Ch đi bán giúp. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã trả hồ sơ để điều tra đối với Nghĩa những Viện kiểm sát không chấp nhận. Do đó, yêu cầu Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xử lý theo quy định pháp luật. [10] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Hoàng Văn Ch phải chịu 200.000 đồng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc "Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng án phí lệ phí Tòa án" của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. [11] Lời phát biểu đề nghị áp dụng pháp luật và mức hình phạt của Kiểm sát viên đối với bị cáo Hoàng Văn Ch là có căn cứ pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận. Riêng về áp dụng tình tiết giảm nhẹ tự thú theo quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hoàng Văn Ch, như đã phân tích trên Hội đồng xét xử không chấp nhận. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn Ch phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 55 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn Ch 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 3 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành là 6 (sáu) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời gian thụ hình tính từ ngày 10 tháng 01 năm 2020. Căn cứ khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự: Xử phạt tiền đối với Hoàng Văn Ch với số tiền là 5.000.000đ (năm triệu đồng). 2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên xử:

- Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn trả sau giám định theo Kết luận giám định số 34/GĐ-MT ngày 16.01.2020, có đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng và 01 bao nilong màu đen kích thước 7x17cm.

- Tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh bị bể màn hình số Imer 358176102977341 (có gắn 02 sim: xxxx.xxxxxx,sim 2: xxxx.xxxxxx); 01 điện thoại di động Nokia màu xanh có số Imei 357723108283413 (có gắn 02 sim: sim 1: xxxx.xxxxxx và sim 2: xxxx.xxxxxx) và 01 chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo màu đen biển kiểm soát 43M1-6661, số khung 233856, số máy 233858 theo giấy đăng ký mô tô, xe máy số 002245, do Công an quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 14-9-2010.

- Tuyên trả lại cho bị cáo Hoàng Văn Ch số tiền 3.200.000đ (ba triệu hai trăm ngàn đồng). Tiếp tục quy trữ số tiền trên để đảm bảo cho việc thi hành án. (Các vật chứng trên hiện đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê theo Quyết định chuyển vật chứng số:42/QĐ-VKS ngày 23.4.2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê; Biên bản giao nhận vật chứng và biên lai thu tiền số: 007323 ngày 23 tháng 4 năm 2020 của Chi cục Thi hành án quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng). 3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 về việc "Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng án phí lệ phí Tòa án" của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Tuyên xử: Buộc bị cáo Hoàng Văn Ch phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. 4. Án xử công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết kết quả xét xử tại nơi cư trú ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ