- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Sỹ P-tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn ỹ P phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 76 /2020/HSST Ngày 15/5/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM – TP HÀ NỘI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thùy Chi
Các hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Hộ , Bà Nguyễn Thị Thuần
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Trần Quốc Trung – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 15/05/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý 42/2020/H T ngày 12 tháng 3 n m 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2020/HSST-QĐ ngày 29/04/2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Sỹ P, Giới tính: Nam; inh ngày: 27/04/1966; Nơi ĐKHKTT: ố 240 đường T, phường T, quận T, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ v n hóa: 5/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên bố: Nguyễn ỹ P (đã chết); Họ tên mẹ: Vũ Thị N, sinh n m 1942. Không có vợ; con: Nguyễn Duy A, sinh n m 2000, nghề nghiệp: Lao động tự do; Tiền án, tiền sự: 01 tiền án: Tại Bản án số 221/2014/H T ngày 27/12/2014, Tòa án nhân dân huyện Đ, thành phố Hà Nội xử phạt 07 n m tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/08/2019. (Chưa được xóa án tích). Bị cáo bị bắt quả tang ngày 23/12/2019, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội, số giam: 400V1/2. Danh ch bản số 110 ngày 30/12/2019 lập tại Công an quận Bắc Từ Liêm. Bị cáo bị bắt gi trong trường hợp khẩn cấp từ ngày 23/12/2019 tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN;
Bị cáo Nguyễn Sỹ P bị Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm truy tố về hành vi phạm tội như sau: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 23/12/2019, Công an phường X, quận B, Hà Nội làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát tại khu vực ngõ 126 đường X, phường X, quận B, Hà Nội phát hiện Nguyễn ỹ P điều khiển xe Honda Vision có biểu hiện nghi vấn nên đã mời P về trụ sở để làm việc. Tại Công an phường X, P tự nguyện giao nộp 01 túi nilông màu trắng kích thước (2,5 x 2,5) cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng (P khai là ma túy đá) và 01 túi nilông màu trắng kích thước (2,5 x 2,5) cm, bên trong chứa 10 viên nén màu hồng (P khai là ma túy tổng hợp). Ngoài ra còn thu gi của P 01 xe máy Vision màu đỏ BK : 29F1-469.01; 01 điện thoại ALCATEL ONE TOUCH màu đen. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tạm gi đồ vật, tài liệu để làm rõ.
Vật chứng thu giữ của P gồm: 01 túi ni lông màu trắng, kích thước khoảng 2,5 x 2,5 cm bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng; 01 túi ni lông màu trắng kích thước khoảng 2,5 x 2,5 cm bên trong chứa 10 viên nén màu hồng; 01 xe máy Vision màu đỏ BK : 29F1- 469.01, số khung: 453635, số máy: 0038824; 01 điện thoại ALCATEL ONE TOUCH màu đen, số thuê bao 0796010661.
Ngày 24/12/2019, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm ra Quyết định số 50 trưng cầu phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội giám định số ma túy thu gi của Nguyễn ỹ P. Kết luận giám định số 8440/KLGĐ-PC09 ngày 30/12/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội xác định: tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilông là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,877 gam, 10 viên nén màu hồng bên trong 01 túi nilông đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 1,000 gam. Tổng khối lượng ma túy là: 1,877 gam.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn ỹ P khai nhận: Bản thân P là người nghiện ma túy, mục đích mua ma túy về để sử dụng, P không biết gì về nhân thân, lai lịch của D và người đàn ông đã bán ma túy cho P. Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ BK : 29F1- 469.01 ( M: 0038824; K: 453635) thu gi của Nguyễn ỹ P, quá trình điều tra P khai mượn chiếc xe trên của anh Nguyễn Trung V (SN: 1965; HKTT: ố 213 đường T, phường T, q. T, Hà Nội) để làm phương tiện đi lại. Anh V khai: Anh mua và đứng tên chiếc xe máy trên vào tháng 11/2018, ngày 23/12/2019 anh V cho P mượn chiếc xe trên để đi đám cưới, việc P sử dụng xe máy trên để đi mua ma túy thì anh V không biết. Kết quả xác minh phương tiện giao thông đường bộ thể hiện anh Nguyễn Trung V là người đứng tên đ ng ký chiếc xe trên. C n cứ kết quả xác minh, ngày 20/02/2020, cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an quận Bắc Từ Liêm đã ra quyết định xử lý vật chứng số 23 trao trả chiếc xe máy trên cho anh Nguyễn Trung V. Anh V đã nhận lại xe máy và không yêu cầu bồi thường dân sự. Đối với 01 điện thoại ALCATEL ONE TOUCH màu đen, số thuê bao 0796010661. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản cá nhân của P và không sử dụng vào việc mua ma túy. Quá trình điều tra không xác định được đối tượng bán ma túy cho P và không xác định được đối tượng “D” nên cơ quan điều tra không có c n cứ để xử lý.
Tại cáo trạng số 51/QĐ-VK ngày 09/03/2020 Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm quyết định truy tố bị cáo Nguyễn ỹ P về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy“ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận tội như cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên tòa sau khi phân tích đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo P từ 30 đến 36 tháng tù; Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật. Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền với bị cáo.
C n cứ vào các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, c n cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, c n cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng hình sự: Các quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an quận Bắc Từ Liêm, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về c n cứ buộc tội :
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 23/12/2019, tại đầu ngõ 126 đường X, phường X, quận B, TP. Hà Nội, Nguyễn ỹ P đang tàng tr trái phép 1,877 gam ma túy Methamphetamine với mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường X bắt quả tang cùng vật chứng.
- Xét tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm truy tố bị cáo là có c n cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.
- Bị cáo là người đã trưởng thành, có khả n ng nhận thức được tác hại của ma túy biết hành vi tàng tr sử dụng trái pháp chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Ma túy là một hiểm họa mà cả nhân loại đang ra sức loại trừ khỏi đời sống xã hội, nó làm ảnh hưởng tới sức khỏe và kinh tế gia đình, làm hủy hoại nhân cách con người và còn là nguyên nhân dẫn đến nhiều tội phạm hình sự khác.
- Về các tình tiết t ng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu , bản án ngày 21/01/2014 Tòa án nhân dân huyện Đ xử phạt bị cáo 07 n m tù về tội “mua bán trái phép chất ma túy’’ chưa được xóa án tích mà bị cáo lại phạm tội nên lần phạm tội này là tái phạm nên phải chịu tình tiết t ng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ như sau: Bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, n n n hối cải đây là nh ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.
- Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã viện dẫn Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng đối với bị cáo một hình phạt tù nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo, đồng thời r n đe phòng ngừa chung, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật đối với loại tội phạm về ma túy. Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa ma túy đã giám định, bên ngoài có ch ký giáp lai của Nguyễn ỹ Phong và giám định viên, trả cho bị cáo 01 điện thoại ALCATEL ONE TOUCH màu đen, số sim 0796010661, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
Về án phí : Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn ỹ P phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. p dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s Khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn ỹ P 30 (Ba mươi ) tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2019. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
2. Về vật chứng: p dụng Điều 46, Điều 47 Bộ Luật Hình sự; Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa ma túy đã giám định, bên ngoài có ch ký giáp lai của Nguyễn ỹ P và giám định viên,
Trả cho bị cáo 01 điện thoại ALCATEL ONE TOUCH màu đen, số sim 0796010661, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 109/20 ngày 12 tháng 03 n m 2020 gi a công an quận Bắc Từ Liêm và Chi cục thi hành án quận Bắc Từ Liêm).
3. Về án phí: p dụng Điều 135, 136 - Bộ luật Tố tụng hình sự.
Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/ 2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, nộp án phí lệ phí Tòa án
Bị cáo Nguyễn ỹ P phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: p dụng điều 331, điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
n xử sơ thẩm công khai bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| N¬i nhËn: - Bị cáo; - VK ND quận Bắc Tõ Liªm; - VKSND thµnh phè Hµ Néi; - TAND thµnh phè Hµ Néi; - C«ng an quận BắcTõ Liªm; - Chi côc THADS quận Bắc Tõ Liªm; - Lu HS - VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Thùy Chi |