- Tranh chấp gì? án hình sự — "Doãn Văn Đ1 phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả mẫu vật sau giám định, (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 07- 7- 2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Giao Thủy).
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 76/2020/HS-ST Ngày: 30-7-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Lâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Viết Sự;
Ông Nguyễn Vinh Quang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 69/2020/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2020/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Doãn Văn Đ1; sinh năm 1985 tại xã G1, huyện G, tỉnh N; nơi cư trú: Xóm A, xã G1, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Doãn Văn Đ2 và bà Vũ Thị H; có vợ là Bùi Thị L và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07- 5-2020 chuyển tạm giam từ ngày 16- 5- 2020 đến nay; “có mặt”.
- Người chứng kiến:
1. Anh Cao Văn H1; sinh năm 1995; “vắng mặt”.
2. Bà Đoàn Thị X; sinh năm 1959; “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ ngày 07- 5- 2020, tổ công tác của phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Nam Định làm nhiệm vụ tại khu vực xóm 3, xã Giao Hà, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định phát hiện Doãn Văn Đ1 đang dừng xe máy BKS 29E1-905.41 có biểu hiện nghi vấn cất giấu trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã yêu cầu kiểm tra hành chính đối với Đ1, quá trình kiểm tra, Đ1 đã tự giác giao nộp 01 ống nhựa nhỏ màu tím được bịt kín hai đầu, dài khoảng 03cm, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng cất giấu trong túi quần bên trái đang mặc của Đ1. Đ1 khai đó là ma túy đá mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã đưa Đ1 cùng tang vật về trụ sở UBND xã Giao Hà tiến hành lập biên bản bắt người phạm quả tang. Vật chứng đã thu giữ gồm: 01 ống nhựa nhỏ màu tím dài khoảng 03 cm được bịt kín hai đầu bên trong đựng chất rắn dạng tinh thể màu trằng được niêm phong ký hiệu là Đ; 01 xe máy nhãn hiệu SUZUKI BKS 29E-905.41; 01 đăng ký xe mô tô mang tên Lê Hải Đ3; 01 điện thoại di động Iphone màu trắng đã cũ và 01 chứng minh nhân dân mang tên Doãn Văn Đ1.
Tại bản kết luận giám định số 486/GĐKTHS ngày 08-5-2020 của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 (một) ống nhựa nhỏ màu tím hàn kín hai đầu, kích thước khoảng 03 cm, được niêm phong ký hiệu Đ gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine. Khối lượng mẫu Đ: 0,293 gam.
Bản Cáo trạng số: 73/CT-VKS ngày 06 - 7- 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, truy tố bị cáo Doãn Văn Đ1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Doãn Văn Đ1 đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình như đã nêu trên.
Kiểm sát viên luận tội: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi cất giấu trái phép 01 ống Methamphetamine có khối lượng là 0,293 gam mục đích để sử dụng cho bản thân. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Doãn Văn Đ1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Doãn Văn Đ1 từ 15 đến 18 tháng tù. Áp dụng khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả mẫu vật sau giám định.Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, kinh tế gia đình khó khăn, nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Bị cáo Doãn Văn Đ1 nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được miễn hình phạt bổ sung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Giao Thủy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ của vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Khoảng 11 giờ ngày 07-5- 2020, tổ công tác phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Nam Định làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực xóm 3, xã Giao Hà, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định phát hiện bắt quả tang Doãn Văn Đ1 có hành vi cất giấu trái phép 01 ống Methamphetamine có khối lượng 0,293 gam với mục đích để sử dụng cho bản thân. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức ma túy là hiểm họa của mỗi gia đình và cộng đồng xã hội là một trong những nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội, gia tăng tội phạm hình sự, xâm phạm tới đạo đức và sức khỏe con người. Bị cáo biết việc làm của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi đi mua ma túy về để sử dụng cho bản thân dẫn đến phạm tội. Do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc buộc bị cáo phải tập trung cải tạo một thời gian để giáo dục riêng đối với bị cáo và đáp ứng công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là người nghiện ma túy, kinh tế gia đình khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Căn khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả mẫu vật sau giám định.
Về nguồn gốc số ma túy thu giữ của Doãn Văn Đ1: Đ1 khai khoảng 10 giờ 30 phút ngày 07- 5- 2020, Đ1 điều khiển xe máy BKS 29E1-90541 đi một mình vào chợ xã Giao Tiến, huyện Giao Thủy mua của một người thanh niên không biết tên tuổi, địa chỉ với giá 200.000 đồng với mục đích để sử dụng cho bản thân. Quá trình điều tra không xác định được người đã bán ma túy cho Đ1 nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu SUZUKI BKS 29E1-905.41 và 01 giấy đăng ký xe mang tên Lê Hải Đ3 thu giữ của Doãn Văn Đ1, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là tài sản hợp pháp của chị Bùi Thị L (là vợ của Đ1), chị L không biết việc Đ1 dùng xe máy để đi mua Methamphetamine; đối với 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Doãn Văn Đ1 và 01 điện thoại di động Iphone màu trắng đã cũ là giấy tờ và tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, vì vậy tất cả các tài sản và giấy tờ đã thu giữ Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị L là phù hợp.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Doãn Văn Đ1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Doãn Văn Đ1 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07 tháng 5 năm 2020.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả mẫu vật sau giám định, (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 07- 7- 2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Giao Thủy).
3. Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Doãn Văn Đ1 phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Doãn Văn Đ1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND huyện Giao Thủy; - Chi cục THADS huyện Giao Thủy; - Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định; - Công an huyện GiaoThủy; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thanh Lâm |