vanban.org

Bản án 76/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chương Mỹ, TP. Hà Nội Tuyên án 13/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trịnh Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Trịnh Văn T, 06(Sáu) năm 06(Sáu) tháng tù. Thời hạn t tính từ ngày 07/3/2020. * Vật chứng: - Tịch thu tiêu h y 01 phong bì niêm phong có chữ ký giáp lai c a giám định viên, Công an và đối tượng Trịnh Văn T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Văn T phạm tội Tàng trữ TPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trịnh Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố t ng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƢƠNG MỸ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2020/HS-ST
Ngày: 13/7/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƢƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Trần Thắng;

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Ngọc Quý

Ông Phạm Tiến Lợi

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hòa, Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 7 năm 2020, tại Tr s Tòa án nh n d n huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm côngkhai v án hình sự th lý số 68/2020/TLST-HS ngày 18/6/2020 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số 76/2020/QĐXXST-HS ngày 30/6/2020 đối với bị cáo:

Trịnh Văn T, sinh năm 1989; Đăng ký nh n khẩu thường trú và chỗ : Thôn P, xã C, huyện M, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; D n tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo:Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trịnh Văn U, sinh năm 1964 và bà Hoàng Thị N, sinh năm 1965.Vợ: Cao Thị H, sinh năm 1995 và có 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2016. Danh chỉ bản số 182 lập ngày 10/3/2020 tại Công an huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bắt tạm giữ, tạm giam: Từ ngày 07/3/2020. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 – Công an thành phố Hà Nội. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Hồi 23 giờ 10 ngày 07/3/2020, Công an xã P, huyện C, thành phố Hà Nội làm nhiệm v tuần tra tại thôn P, xã C, huyện M, thành phố Hà Nội phát hiện, bắt quả tang Trịnh Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép ch t ma túy, Công an xã P đ lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, d n giải Trịnh Văn T c ng vật chứng về tr s Công an xã để điều tra làm r .

Thu giữ c a Trịnh Văn T:

- 04 túi nilon màu trắng, kích thước (1x1) cm và 01 túi nilon màu trắng, kích thước (7x12) cm bên trong chứa hạt tinh thể màu trắng nghi là ma túy;

- 01 xe máy Honda Dream, màu nâu, BKS: 33K1-8793;

- 01 điện thoại di động Samsung màu xanh đen.

Quá trình điều tra xác định: Do nghiện hút ma túy nên Trịnh Văn T thường xuyên tìm mua ma túy về để sử d ng. Khoảng 17 giờ ngày 07/3/2020, Trịnh Văn T điều khiển xe máy Honda Dream, màu nâu, BKS: 33K1-8793 đến khu vực Cổng Bệnh viện y học cổ truyền Hà Nội ( đường L, quận T, thành phố Hà Nội) gặp và hỏi mua một người đàn ông không quen biết được 01 gói ma túy đá với giá 2.200.000 đồng, T mang về nhà chia ra thành 5 gói c t trong người để sử d ng dần. Khoảng 20 giờ c ng ngày, T r Nguyễn Văn C là bạn nghiện sử d ng ma túy cùng tại vườn nh n thuộc thôn P, xã C, huyện M. Sau đó T ch C về nhà thì bị Công an xã C, huyện M, thành phố Hà Nội kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang c ng vật chứng.

Bản kết luận giám định số 2002/KLGĐ-PC09 ngày 17 tháng 3 năm 2020 c a Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 05 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 7.869 gam.

Về nguồn gốc số ma túy trên, Trịnh Văn T khai mua c a một người đàn ông không quen biết tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực Cổng Bệnh viện y học cổ truyền Hà Nội thuộc khu vực đường L, quận T, thành phố Hà Nội nên Cơ quan điều tra không có cơ s điều tra, xử lý.

Đối với chiếc xe máy Honda Dream, BKS: 33K1-8793, màu nâu, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên c a ông Trịnh Văn U (sinh năm 1964, HKTT: Thôn P, xã C, huyện M, thành phố Hà Nội) là bố đẻ c a T. Ông U để xe nhà và không biết T sử d ng xe để đi mua ma túy nên ngày 25/5/2020, Cơ quan điều tra đ ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả xe máy trên cho ông Trịnh Văn U.

Đối với Nguyễn Văn C không biết Trịnh Văn T gi u ma túy trong người nên C không đồng phạm với T. Do C sử d ng ma túy c ng T nên ngày 25/5/2020 Công an huyện đ ra Quyết định xử lý hành chính bằng hình thức Cảnh cáo nên Tòa không xem xét.

Tại bản cáo trạng số 75/CT-VKS-CM ngày 16/6/2020 c a Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ thì Trịnh Văn T bị truy tố về tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Trịnh Văn T khai nhận hành vi c a mình, thành khẩn nhận tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quan điểm như cáo trạng truy tố và kết luận bị cáo Trịnh Văn T đ phạm tội Tàng trữ trái phép ch t ma túy, quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Sau khi đánh giá tính ch t mức độ nguy hiểm c a hành vi phạm tội, xem xét tình tiết giảm nhẹ, đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 6 năm đến 7 năm t , xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu h y ma túy; trả lại điện thoại cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ v án đ được tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố t ng c a cơ quan điều tra Công an huyện Chương Mỹ,Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ và c a Điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự th t c quy định c a Bộ luật tố t ng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định c a Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng c a cơ quan tiến hành tố t ng đ thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội c a bị cáo tại phiên tòa ph hợp lời khai tại cơ quan điều tra c ng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ v án, có đ cơ s kết luận: Hồi 23 giờ 10 ngày 07/3/2020 tại thôn P, xã C, huyện M, thành phố Hà Nội, Trịnh Văn T có hành vi c t gi u 7,869 gam ma túy loại Methamphetamine m c đích để sử d ng thì bị phát hiện, bắt quả tang. Hành vi c a bị cáo đ phạm vào tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như cáo trạng c a Viện kiểm sát là hoàn toàn có căn cứ ph hợp pháp luật.

Hành vi phạm tội c a bị cáo g y nguy hiểm cho x hội, trực tiếp x m phạm đến quyền kiểm soát các ch t ma túy c a Nhà nước, g y m t trật tự trị an, ảnh hư ng đến sức khỏe cộng đồng. Bị cáo nhận thức r việc sử d ng ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng v n cố tình c t gi u ma túy để sử d ng. Do đó, cần phải xử lý nghiêm, áp d ng mức hình phạt t giam cách ly bị cáo khỏi x hội một thời gian mới có tác d ng giáo d c riêng bị cáo cũng như răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét bị cáo khai báo thành khẩn, thái độ ăn năn hối cải, nh n th n chưa có tiền án tiền sự (theo Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự) để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp d ng hình phạt phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng v án: - Tịch thu tiêu h y số ma túy đ thu giữ;

- 01 điện thoại di động Samsung màu xanh đen thu c a Trịnh Văn T không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại bị cáo

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: - Điểm g Khoản 2 Điều 249; Điều 38; Điều 47; Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

- Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố t ng hình sự;

- Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên bố bị cáo Trịnh Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Trịnh Văn T, 06(Sáu) năm 06(Sáu) tháng tù. Thời hạn t tính từ ngày 07/3/2020.

* Vật chứng: - Tịch thu tiêu h y 01 phong bì niêm phong có chữ ký giáp lai c a giám định viên, Công an và đối tượng Trịnh Văn T.

- Trả lại Trịnh Văn T 01 điện thoại di động Samsung màu xanh đen.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/6/2020 tại Chi c c Thi hành án d n sự huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội).

* Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ