vanban.org

Bản án 76/2019/HSST — Hình sự

TAND Q. Ba Đình, TP. Hà Nội Tuyên án 20/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chu Đức K 01 (Một) năm 4 (bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02 tháng 12 năm 2018.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điểm c, Khoản 1 Điều 47; Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điểm a, Khoản 2, Điểm b, Khoản 3, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "- Chu Đức K bị xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Tòa quyết gì? Chu Đức K 01 (Một) năm 4 (bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02 tháng 12 năm 2018.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BA ĐÌNH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2019/HSST
Ngày 20 tháng 5 năm 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Long

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Phan Thị Hà

2. Bà Nguyễn Thị Lan Ka

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Lan Hương

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội đưa ra xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 76/2019/TL - HSST ngày 24 tháng 4 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2019/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2019 đối với:

Bị cáo Chu Đức K, sinh năm 1990; Đăng ký hộ khẩu và nơi ở: Khu 7, xã N, huyện Y, tỉnh P; Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Họ và tên bố: Chu Văn C, sinh năm 1964; Họ và tên mẹ: Ngô Thị M, sinh năm 1963; Gia đình có 2 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Họ và tên vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1995; có 01 con sinh năm 2015; Nhân thân: Tiền án: Bản án số 117/2016/HSST ngày 24/6/2016 Toà án thành phố Việt Trì xử Miễn trách nhiệm hình sự về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý (đã xóa án tích); bị bắt quả tang ngày 02/12/2018. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 02/12/2018, tại đầu ngõ 290 Kim Mã, phường Kim Mã, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Tổ công tác Công an phường Kim Mã, tiến hành kiểm tra hành chính đối với Chu Đức K, phát hiện trong túi quần bò bên phải phía trước Khánh đang mặc 01 túi ni lông màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng. Khánh tự khai nhận là Heroine, mua về để sử dụng. Ngoài ra, công an còn thu giữ của Khánh: 01 ví giả da màu đen nhãn hiệu Gucci bên trong có: 01 giấy phép lái xe mang tên Chu Đức K; 01 Điện thoại di động Nokia 1208 màu đen; 01 xi lanh; 01 lọ nước cất và số tiền 65.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra, Chu Đức K đã khai nhận hành vi phạm tội như sau: Khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 02/12/2018, Khánh đi xe khách từ Phú Thọ đến bến xe khách Mỹ Đình mục đích để chơi và mua ma tuý loại Heroine về sử dụng. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, Khánh đến bến xe và gọi điện cho Cường (không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể) theo số điện thoại 0941245634 mua 500.000 đồng tiền ma tuý. Cường đồng ý và hẹn Khánh tại ngã tư Khuất Duy Tiến - Nguyễn Trãi, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội để giao ma tuý. Sau khi mua ma tuý xong, Khánh cất ma túy vào túi quần bò phía trước bên phải đang mặc rồi bắt xe ôm đi tìm nơi sử dụng. Trên đường đi, Khánh mua xi lanh và nước cất. Khi đi đến đầu ngõ 290 Kim Mã thì bị tổ công tác công an phường Kim Mã kiểm tra, bắt quả tang cùng vật chứng như trên. Lời khai nhận của Chu Đức K phù hợp với lời khai của nhân chứng, sơ đồ bắt giữ, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ.

Về đối tượng bán ma túy cho Khánh, Cơ quan điều tra không xác định được nhân thân lai lịch nên không có cơ sở để xử lý.

Kết luận giám định số 9161/KLGĐ-PC09 ngày 11 tháng 12 năm 2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 túi ni lông là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,210gam”.

Cáo trạng số: 80/CT-VKS ngày 24 tháng 4 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm C Khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm vụ án và đưa ra những chứng cứ, lý lẽ kết luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm C, Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xét nhân thân bị cáo có 01 tiền án đã xóa án tích, bị cáo tại phiên tòa khai báo thành khẩn.

Đề nghị về hình phạt:

Áp dụng Điểm c, Khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s, Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án từ 14 tháng đến 18 tháng tù;

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng: Căn cứ Điểm c, Khoản 1 Điều 47; Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu và tiêu hủy 01 gói niêm phong ma túy đã qua giám định loại Heroine khối lượng 0,210 gam bên ngoài có chữ ký của giám định viên và đối tượng; 01 xi lanh và 01 lọ nước cất đều chưa qua sử dụng. Tịch thu, sung công quỹ 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1208 màu đen đã qua sử dụng. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 65.000 (sáu năm nghìn) đồng. Trả lại cho bị cáo 01 ví giả da màu đen nhãn hiệu GUCCI đã cũ và 01 giấy phép lái xe mang tên Chu Đức K.

Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và không có tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình, mong sớm trở về với gia đình.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và người làm chứng.

NHẬN ĐỊNH HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

[1] Quá trình điều tra, truy tố liên quan đến đến việc giải quyết vụ án (Về hành vi, các quyết định tố tụng), Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tiến hành đúng các quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015;

[2] Nội dung: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận toàn bộ diễn biến vụ án đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 02/12/2018, tại đầu ngõ 290 Kim Mã, phường Kim Mã, Chu Đức K đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,210gam Heroine mục đích để sử dụng, thì bị Tổ công tác Công an phường Kim Mã kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang cùng vật chứng. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định cùng các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c, Khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Xét nhân thân bị cáo: Bản án số 117/2016/HSST ngày 24/6/2016 Tòa án thành phố Việt Trì xử Miễn trách nhiệm hình sự về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý (đã xóa án tích); bị bắt quả tang ngày 02/12/2018. Do vậy phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Khi xem xét, quyết định mức hình phạt đối với bị cáo: Hội đồng xét xử xét thái độ của bị cáo tại phiên tòa thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình. Cần thiết áp dụng Điểm s, Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

[3] Xử lý vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy 01 gói niêm phong ma túy đã qua giám định loại Heroine khối lượng 0,210 gam bên ngoài có chữ ký của giám định viên và đối tượng, 01 ví giả da màu đen nhãn hiệu GUCCI đã cũ, 01 xi lanh và 01 lọ nước cất đều chưa qua sử dụng; tịch thu, nộp nhân sách Nhà nước 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1208 màu đen đã qua sử dụng; trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe mang tên Chu Đức K không liên quan đến nội dung vụ án. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 65.000 (sáu năm nghìn) đồng.

Đối tượng bán ma túy cho bị cáo hiện không xác định được lai lịch địa chỉ nên không có cơ sở để xử lý.

[4] Đề nghị của Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về Điều luật áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như phần xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp các quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các căn cứ, nhận định của Hội đồng xét xử;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điểm c, Khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s, Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt:

- Chu Đức K 01 (Một) năm 4 (bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02 tháng 12 năm 2018.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Xử lý vật chứng: Căn cứ Điểm c, Khoản 1 Điều 47; Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điểm a, Khoản 2, Điểm b, Khoản 3, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu và tiêu hủy 01 gói niêm phong ma túy đã qua giám định loại Heroine khối lượng 0,210 gam bên ngoài có chữ ký của giám định viên và đối tượng, 01 ví giả da màu đen nhãn hiệu GUCCI đã cũ, 01 xi lanh và 01 lọ nước cất đều chưa qua sử dụng; tịch thu, nộp nhân sách Nhà nước 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1208 màu đen đã qua sử dụng; trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe mang tên Chu Đức K theo Biên bản bàn giao vật chứng số 90 ngày 19 tháng 4 năm 2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an quận Ba Đình. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 65.000 (sáu năm nghìn) đồng, theo giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949.0.1061691 tại kho bạc Nhà nước quận Ba Đình lập ngày 19 tháng 4 năm 2019.

- Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày 20 tháng 5 năm 2019./.

Cỡ chữ