- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân Trung - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƢNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 76/2019/HS-ST Ngày: 22/5/2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán Trung cấp - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Tiến Trung.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Nguyễn Thị Huyền Nga
2/ Ông Ninh Công Vinh
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Mai - Thư ký Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng - Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 22/5/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 73/2019/HSST ngày 26 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2019/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: NGUYỄN XUÂN T - Sinh năm: 1985 tại HN; HKTT: 487B BĐ, phường C, quận H, Thành phố H; Nơi ở: Không cố định; Nghề nghiệp: Không; Văn hoá: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Xuân H và bà: Nguyễn Thị P; có vợ là Bùi Thị D (đã ly hôn) và 01 con, sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: bị cáo không có tiền án, tiền sự đã được xóa; Bắt quả tang ngày 16/01/2019. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 1 Công an Thành phố H. Danh chỉ bản số 000000071 lập ngày 17/01/2019 của Công an quận H, Thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13h30’ ngày 16/01/2019, Nguyễn Xuân T đi bộ đến khu vực ngã tư B
- T thì gặp Việt (là bạn xã hội) tại đây Việt nhờ T mua hộ 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) ma túy đá. T đồng ý và thỏa thuận tiền công đi mua ma túy là 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng). Việt đưa T 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) và thỏa thuận sau một tiếng giao ma túy tại ngã tư B - T, Q. H, TP. H. T đi đến khu vực hồ T trên phố T để tìm mua ma túy. Tại đây T gặp Minh (là bạn xã hội) mua của Minh một gói ma túy với giá 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy Trung cất trong túi áo khoác bên phải rồi đi về địa điểm giao ma túy cho Việt. Khi đi đến trước số 41 phố T thì T bị Tổ công tác công an phường B kiểm tra hành chính, phát hiện thu giữ số ma túy trên. Ngoài ra, Tổ công tác đã thu giữ của T 01 điện thoại di động OPPO R7sf màu vàng - hồng đã qua sử dụng và số tiền 160.000 đồng (Một trăm sáu mươi nghìn đồng).
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận Hai Bà Trưng đã ra Quyết định trưng cầu giám định số ma túy đã thu giữ của Nguyễn Xuân T. Tại bản kết luận giám định số: 621/KLGĐ-PC09 ngày 24/01/2019, Phòng KTHS - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 gói nilong là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,504 gam.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Xuân T khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Đối với người nam thanh niên tên Minh đã bán ma túy cho T vào ngày 16/01/2019: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã dẫn giải T tới địa điểm mua ma túy, T đã xác định được nơi mua ma túy là khu vực vỉa hè hồ T - Phố T, Quận H, Hà Nội đối diện cổng công viên T nhưng không xác định được người thanh niên đã bán ma túy cho mình nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đủ căn cứ xác minh, xử lý.
Đối với người nam thanh niên tên Việt là người hỏi mua ma túy của T: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã dẫn giải T tới địa điểm gặp Việt, T chỉ được vị trí tại số 41 phố T, P. B, quận H, Hà Nội nhưng T không chỉ được người thanh niên nhờ mua ma túy tên Việt nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đủ căn cứ xác minh, xử lý.
Đối với chiếc điện thoại di động OPPO R7sf màu vàng - hồng đã qua sử dụng: T khai là tài sản của T dùng để liên lạc với bạn bè, người thân.
Đối với số tiền 160.000 đồng (Một trăm sáu mươi nghìn đồng), T khai nhận từ Việt 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) đã mua ma túy hết 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) và ăn uống hết 40.000 đồng (Bốn mươi nghìn đồng) nên còn lại 160.000 đồng (Một trăm sáu mươi nghìn đồng).
Tại cáo trạng số 79/CT-VKS ngày 23/4/2019, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Xuân T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo Điều 251 khoản 1 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa,
Bị cáo khai nhận tội như nội dung cáo trạng đã nêu. Bị cáo thừa nhận: khoảng 13h30’ ngày 16/01/2019, bị cáo có nhận của Việt (bạn xã hội) 600.000 đồng để mua cho Việt 01 gói ma túy đá với giá 400.000 đồng, hưởng lợi 200.000 đồng. Khi đang trên đường đến gặp Việt để giao ma túy thì bị Công an phường B kiểm tra tại khu vực trước cửa số nhà 41 phố T và bắt giữ cùng gói ma túy đang để trong túi bên phải áo khoác. Bị cáo đã biết tội, xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 251 khoản 1, 5 BLHS năm 2015; Điều 51, khoản 1, điểm s BLHS năm 2015, xử phạt: Nguyễn Xuân T với mức án từ 30 đến 36 tháng tù. Phạt 5.000.000 đồng. Tịch thu 160.000 đồng thu lời bất chính; truy nộp 40.000 đồng thu lời bất chính đã tiêu xài. Tịch thu tiêu hủy tang vật là ma túy.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng của quận Hai Bà Trưng thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thẩm quyền và các quy định khác về điều tra, truy tố và xét xử.
Về hành vi và tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Xuân T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ khác tại cơ quan điều tra. Được chứng minh bằng tang vật vụ án thu được trong túi áo khoác bên phải của bị cáo T mặc trên người 01 túinilon màu trắng bên trong có tinh thể màu trắng, 01 điện thoại di động OPPO R7sf màu vàng và 160.000 đồng. Tại bản kết luận giám định số: 621/KLGĐ-PC09 ngày 24/01/2019, Phòng KTHS - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 gói nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,504 gam. Có đủ cơ sở kết luận: khoảng 13h30’ ngày 16/01/2019, bị cáo có mua hộ cho Việt ma túy Methamphetamine với giá 400.000 đồng, hưởng lợi 200.000 đồng của Việt thì bị công an kiểm tra hành chính và bắt giữ tại khu vực số nhà 41 phố T, phường B, quận H, Hà Nội. Hành vi của bị cáo Nguyễn Xuân T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 1999.
Về nhân thân, tiền án, tiền sự và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: - Về tiền án, tiền sự: Bị cáo không có.
- Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án tiền sự đã được xóa.
- Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Khi lượng hình, Tòa án đã xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo để từ đó có hình phạt tương xứng với mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo, cụ thể:
+ Tình tiết tăng nặng: không có.
+ Tình tiết giảm nhẹ: bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về tội lỗi của mình. Đây là tình tiết để giảm nhẹ, cần áp dụng Điều 51 khoản 1 điểm s Bộ luật hình sự 2015 giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt:
- Hành vi Mua bán trái phép: 0,504 gam Methamphetamine của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì chẳng những đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý và chất gây nghiện khác, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, mà còn làm gia tăng các tệ nạn về ma tuý và các loại tội phạm khác trên địa bàn thành phố Hà Nội nói chung, quận H nói riêng. Ma túy với một tác hại khôn lường do sức tàn phá của nó, chính vì vậy mà Nhà nước và cả cộng đồng xã hội ra sức tìm cách bài trừ. Bị cáo nhận thức được điều này, song do muốn thu lời bất chính lấy tiền để tiêu xài cá nhân nên vẫn cố tình phạm tội. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung nhằm hạn chế các loại tội phạm khác trên địa bàn quận H.
- Về hình phạt bổ sung: xét trong trường hợp này bị cáo không công ăn việc làm ổn định nên miễn phạt tiền.
Về biện pháp tư pháp: cần áp dụng Điều 47 khoản 1 điểm b, c Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 khoản 2 điểm a, b Bộ luật tố tụng hình sự 2015:
- Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong bên trong chứa 0,504 gam Methamphetamine của bị cáo là vật chứng vụ án. Tịch thu sung công quỹ nhà nước 160.000 đồng là tiền bị cáo thu lợi bất chính từ việc phạm tội. Truy thu số tiền 40.000 đồng thu lời bất chính mà bị cáo đã tiêu xài.
- Đối với các vật chứng khác gồm với chiếc điện thoại di động OPPO R7sf màu vàng - hồng đã qua sử dụng Hội đồng xét xử nhận định không liên quan đến vụ án nên trả lại bị cáo là có cơ sở.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào: Điều 251 khoản 1; Điều 51, khoản 1, điểm s Bộ luật hình sự năm 2015.
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt: Nguyễn Xuân T 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/01/2019.
- Căn cứ Điều 47 khoản 1 điểm b, c Bộ luật hình sự 2015; Điều 106 khoản 2 điểm a, b Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
+ Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong chứa 0,504 gam Methamphetamine của bị cáo là vật chứng vụ án (Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25/4/2019 giữa Công an quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội và Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội).
+ Tịch thu sung công quỹ nhà nước 160.000 đ thu của bị cáo (theo giấy nộp tiền vào tài khoản ở kho bạc Nhà nước quận Hai Bà Trưng ngày 25/4/2019 giữa Công an quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội và Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội).
+ Truy thu số tiền 40.000 đồng thu lời bất chính mà bị cáo đã tiêu xài.
- Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331 khoản 1; Điều 332 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 21 khoản 1 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án cùng danh mục kèm theo.
Bị cáo Nguyễn Xuân T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - UBND p. C, Q. H,Tp. H; - VKSND quận Hai Bà Trưng; - Công an quận Hai Bà Trưng; - Chi cục THADS quận Hai Bà Trưng; - Sở TP Thành phố Hà Nội; - Lưu hồ sơ. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Tiến Trung |