- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Moong Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:76/2019/HS-ST Ngày 10/9/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Công Phong.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Lương.
2. Bà Vi Thị Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Huyền Anh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q tham gia phiên toà:
Bà Lang Thị Ngọc Trang, Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2019, tại Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 69/2019/TLST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2019/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:
Moong Văn D; Tên gọi khác: Không; sinh năm 1986, tại huyện T, tỉnh Nghệ An.
Nơi cư trú: Bản N, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Nguyên trồng trọt; trình độ học vấn : Không học; dân tộc: Khơ Mú; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Moong Xém H; con bà : Hà Thị L; vợ: Chưa có; con có 3 người; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/6/2019. Có mặt.
- Người phiên dịch: Bà Lang Thị V, sinh năm 1979; trú tại bản P, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Moong Văn D: Ông Nguyễn Thái Q, Trợ giúp viên trợ giúp pháp lý, chi nhánh trợ giúp pháp lý số 2 thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 24/6/2019 Moong Văn D đi lên bản H, xã T mua 07 viên Methamphetamine với một người không quen biết, để sử dụng. Mua được ma túy bị cáo đi về đến xóm C, xã T, huyện Q thì bị bắt quả tang, thu của bị cáo 07 viên nén màu hồng.
Tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q qua xác định trọng lượng 07 viên nén màu hồng thu của Moong Văn D có tổng khối lượng 0,7 gam.
Bản kết luận giám định số 959/KL- PC09(MT) ngày 28/6/2019 của phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận:
Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Moong Văn D gửi tới giám định là Methamphetamine, 7 viên nén màu hồng thu của Moong Văn D có tổng khối lượng 0,7 gam (Không phẩy bảy gam).
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Moong Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Cụ thể: Vào lúc 18 giờ, ngày 24/6/2019 tại xóm C, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An, Moong Văn D đang có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy thì bị bắt quả tang, thu giữ 07 viên Methamphetamine có khối lượng 0,7 gam. Mục đích bị cáo cất giấu ma túy là để sử dụng.
Bản cáo trạng số 75/CT-VKS- QP ngày 19/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Moong Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Đối với người bán trái phép chất ma túy cho bị cáo, do không xác minh được họ tên và địa chỉ, nên không có cơ sở để điều tra xử lý. Đối với Lữ Văn K, trú tại bản T, xã T, huyện Q theo lời khai của bị cáo là người gửi 200.000 đồng đi mua ma túy hộ, cơ quan điều tra đã xác minh, nhưng hiện nay K không có mặt tại địa phương, nên chưa đủ căn cứ để xử lý. Khi nào điều tra đủ căn cứ sẽ xem xét và giải quyết bằng một vụ án khác.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Q vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã kết luận và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Moong Văn D từ 12 đến 18 tháng tù.
Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại; miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Người bào chữa không tranh luận về tội danh và đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn tiền án phí đối với bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Mặc dù không được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép, nhưng vào lúc 18 giờ, ngày 24/6/2019 tại xóm C, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An, bị cáo Moong Văn D đang cất giấu trái phép chất ma túy thì bị bắt quả tang. Thu của bị cáo 0,7 gam Methamphetamine. Bị cáo tàng trữ ma túy không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước. Do đó bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết nhân thân, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, mà còn làm ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe, nòi giống của con người, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Vì vậy cần xét xử nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt có ích cho xã hội, răn đe và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên sau khi phạm tội bị cáo khai báo thành khẩn đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Q đề nghị xử phạt bị cáo Moong Văn D từ 12 đến 18 tháng tù; người bào chữa đề nghị xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là hợp lý; đề nghị của người bào chữa là thấp so với số lượng ma túy bị cáo tàng trữ đã bị thu giữ.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, bị cáo không có việc làm ổn định, thu nhập thấp, điều kiện kinh tế khó khăn, không có tài sản đáng giá; bị cáo thuộc diện hộ nghèo. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đối với 07 viên Methamphetamine cơ quan điều tra lấy đi giám định chất ma túy 02 viên, còn lại 05 viên; đây là vật nhà nước cấm lưu hành, nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Moong Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Phạt Moong Văn D 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 24/6/2019.
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ 05 (Năm) viên Methamphetamine thu giữ của bị cáo Moong Văn D.
Chi tiết vật chứng được ghi cụ thể trong biên bản giao nhận ngày 20/8/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q với Chi cục thi hành án dân sự huyện Q, tỉnh Nghệ An.
Căn cứ vào Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Moong Văn D.
Bị cáo Moong Văn D có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - Bị cáo. - VKSND huyện Q. -VKSND tỉnh Nghệ An. - Công an huyện Q. - Chi cục THA DS huyện Q. - Trại tạm giam; trại giam. - Sở tư pháp; UBND xã T. - Lưu VP,THAHS, Hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Công Phong |