- Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự phúc thẩm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số: 66/2019/HS-ST ngày 05 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
- Căn cứ chính? Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 76/2019/HS-PT Ngày 29 – 10 – 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Như
Các Thẩm phán:
Ông Châu Văn Mỹ
Ông Cao Văn Tám
- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Thị Hiền, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Quan Tuấn Nghĩa - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 79/2019/TLPT-HS ngày 11 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo Lâm Quang Đ. Do có kháng cáo của bị cáo, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 66/2019/HS-ST ngày 05 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Lâm Quang Đ, sinh năm 1975 tại Bạc Liêu. Nơi cư trú: Số AAA, Khóm 8, Phường X, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Làm thuê; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Hữu K (đã chết) và bà Phan Ngọc T, sinh năm 1946; vợ tên Thạch Thị Phương N, sinh năm 1989; có 01 người con, sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị khởi tố bị can ngày 16/11/2018 và được cho tại ngoại đến nay, (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Tăng Thành N, sinh năm 1977. Địa chỉ: Số XXX, Khóm 3, Phường Y, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, (vắng mặt).
2. Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1969. Địa chỉ: Ấp A, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 15 giờ 15 phút ngày 15/7/2018, bị cáo Lâm Quang Đ bị bắt quả tang ghi số đề tại nhà của bị cáo ở số AAA, Khóm 8, Phường X, thành phố Bạc Liêu, tỉnh B. Quá trình điều tra xác định: Trong thời gian từ khoảng tháng 11/2017 đến ngày 15/7/2019, bị cáo Lâm Quang Đ ghi số đề thắng thua bằng tiền với nhiều người khác tại nhà của bị cáo ở số AAA, Khóm 8, Phường X, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Hình thức ghi số là dựa theo kết quả xổ số kiến thiết của các tỉnh miền Nam và tỉnh miền Bắc, sau đó giao phơi cho chủ thầu để hưởng tiền hoa hồng.
Căn cứ vào kết quả điều tra xác định trong thời gian ghi số đề, bị cáo Lâm Quang Đ đánh bạc với các chủ thầu có số tiền đánh bạc trên 5.000.000 đồng là 18 lần, cụ thể như sau:
- Giao phơi đề cho Tăng Thành N:
+ Ngày 09/11/2017, dựa theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Tây Ninh, số tiền đặt là 900.000 đồng, số tiền trúng là 4.800.000 đồng, tổng số tiền tham gia đánh bạc là 5.700.000 đồng.
+ Ngày 28/5/2018, dựa theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh miền Bắc, số tiền đặt là 2.760.000 đồng, số tiền trúng là 3.200.000 đồng, tổng số tiền tham gia đánh bạc là 5.960.000 đồng.
+ Ngày 29/5/2018, dựa theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh miền Bắc, số tiền đặt là 4.830.000 đồng, số tiền trúng là 3.600.000 đồng, tổng số tiền tham gia đánh bạc là 8.430.000 đồng.
+ Ngày 09/6/2018, dựa theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh miền Bắc, số tiền đặt là 3.680.000 đồng, số tiền trúng là 1.600.000 đồng, tổng số tiền tham gia đánh bạc là 5.280.000 đồng.
+ Ngày 11/6/2018, dựa theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh miền Bắc, số tiền đặt là 4.401.00 đồng, số tiền trúng là 3.200.000 đồng, tổng số tiền tham gia đánh bạc là 7.601.000 đồng.
+ Ngày 12/6/2018, dựa theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Bạc Liêu, số tiền đặt là 2.185.000 đồng, số tiền trúng là 2.840.000 đồng, tổng số tiền tham gia đánh bạc là 5.025.000 đồng; còn dựa theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh miền Bắc, số tiền đặt là 2.725.000 đồng, số tiền trúng là 4.120.000 đồng, tổng số tiền tham gia đánh bạc là 6.845.000 đồng.
+ Ngày 14/6/2018, dựa theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh miền Bắc số tiền đặt là 3.795.000 đồng, số tiền trúng là 2.240.000 đồng, tổng số tiền tham gia đánh bạc là 6.035.000 đồng.
Ngoài ra, qua điều tra còn chứng minh được trong khoảng thời gian từ tháng 4/2017 đến tháng 3/2018, bị cáo Lâm Quang Đ và một người tên H (chưa xác định được nhân thân cụ thể) cùng nhau đặt số đề thắng thua bằng tiền với người ghi số đề, dựa theo kết quả xổ số kiến thiết miền Nam và miền Bắc.
- Giao phơi đề cho Nguyễn Thị C:
+ Ngày 02/6/2017, dựa theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Trà Vinh, số tiền đặt là 1.800.000 đồng, số tiền trúng là 8.000.000 đồng, tổng số tiền tham gia đánh bạc là 9.800.000 đồng.
+ Ngày 08/6/2017, dựa theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh An Giang, số tiền đặt là 1.050.000 đồng, số tiền trúng là 5.600.000 đồng, tổng số tiền tham gia đánh bạc là 6.650.000 đồng.
+ Ngày 21/6/2017, dựa theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Sóc Trăng, số tiền đặt là 2.250.000 đồng, số tiền trúng là 4.000.000 đồng, tổng số tiền tham gia đánh bạc là 6.250.000 đồng.
+ Ngày 28/6/2017, dựa theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Sóc Trăng, số tiền đặt là 1.950.000 đồng, số tiền trúng là 8.800.000 đồng, tổng số tiền tham gia đánh bạc là 10.750.000 đồng.
+ Ngày 10/7/2017, dựa theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Cà Mau, số tiền đặt là 1.950.000 đồng, số tiền trúng là 4.800.000 đồng, tổng số tiền tham gia đánh bạc là 6.750.000 đồng.
+ Ngày 12/7/2017, dựa theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Sóc Trăng, số tiền đặt là 2.400.000 đồng, số tiền trúng là 8.000.000 đồng, tổng số tiền tham gia đánh bạc là 10.400.000 đồng.
+ Ngày 21/7/2017, dựa theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Trà Vinh, số tiền đặt là 1.500.000 đồng, số tiền trúng là 7.200.000 đồng, tổng số tiền tham gia đánh bạc là 8.700.000 đồng.
+ Ngày 13/8/2017, dựa theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Lâm Đồng, số tiền đặt là 1.050.000 đồng, số tiền trúng là 3.600.000 đồng, tổng số tiền tham gia đánh bạc là 5.450.000 đồng.
+ Ngày 01/9/2017, dựa theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Trà Vinh, số tiền đặt là 2.700.000 đồng, số tiền trúng là 7.200.000 đồng, tổng số tiền tham gia đánh bạc là 9.900.000 đồng.
+ Ngày 05/9/2017, dựa theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Bạc Liêu số tiền đặt là 3.450.000 đồng, số tiền trúng là 17.600.000 đồng, tổng số tiền tham gia đánh bạc là 21.050.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 66/2019/HS-ST ngày 05 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bạc Liêu quyết định:
Tuyên bố bị cáo Lâm Quang Đ phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lâm Quang Đ 01 (một) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án được trừ thời hạn bị bắt từ ngày 15/7/2018 đến ngày 16/7/2018.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 16 tháng 9 năm 2019, bị cáo Lâm Quang Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo. Ngoài ra, bị cáo Đ yêu cầu cấp phúc thẩm xét xử vụ án theo hướng xử phạt ông Tăng Thành N và bà Nguyễn Thị C theo quy định pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về hình thức: Xét kháng cáo của bị cáo còn trong thời hạn luật định nên cấp phúc thẩm chấp nhận và đưa ra xét xử là hợp lệ. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vắng mặt và có đơn xin hoãn phiên tòa, xét thấy sự vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử, đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về nội dung: Bị cáo Lâm Quang Đ đã lợi dụng vào kết quả xổ số kiến thiết của Nhà nước để đánh bạc trái phép dưới hình thức chơi số đề được thua bằng tiền với người khác là 18 lần, trong đó bị cáo giao phơi số đề cho đối tượng Tăng Thành N 08 lần, giao phơi cho đối tượng Nguyễn Thị C 10 lần, số tiền dùng để đánh bạc thấp nhất là 5.025.000 đồng, cao nhất là 21.050.000 đồng nên cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Mặt khác, hành vi của các đối tượng Tăng Thành N và Nguyễn Thị C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, Cơ quan điều tra lại không khởi tố bị can đối với hai đối tượng N và C để xử lý trong cùng vụ án này là bỏ lọt người phạm tội, ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án. Đồng thời, Cơ quan điều tra Quyết định tách vụ án hình sự đối với hành vi “ghi số đề thắng thua bằng tiền với người khác” của N và C để tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau là không đúng theo quy định tại Điều 170 Bộ luật tố Tụng hình sự .
Ngày 16/3/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự số 18, đồng thời ngày 16/3/2019 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B ban hành Bản kết luận điều tra số 38 đề nghị truy tố đối với bị cáo Lâm Quang Đ là không đúng quy định của Bộ luật tố Tụng hình sự về điều tra vụ án hình sự, việc ban hành Kết luận điều tra, Cáo trạng truy tố và xét xử đối với bị cáo Lâm Quang Đ khi vụ án đã bị tạm đình chỉ điều tra là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 355, điểm a, c khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị cáo về nội dung xử lý trách nhiệm hình sự đối với Tăng Thành N và Nguyễn Thị C. Hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số: 66/2019/HSST ngày 05/9/2019 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Ngày 16/10/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu đã tống đạt thủ tục xét xử cho bị cáo Lâm Quang Đ theo đúng quy định tại Điều 137, Điều 138 Bộ luật Tố tụng hình sự; ngày 28/10/2019, gia đình bị cáo nộp đơn xin hoãn phiên tòa thay bị cáo với lý do bị cáo bị bệnh đang điều trị. Xét thấy, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vắng mặt và sự vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử, nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vắng mặt bị cáo.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Lâm Quang Đ thừa nhận có đánh bạc với hình thức ghi số đề giao phơi cho thầu đề nhằm hưởng tiền hoa hồng thì bị bắt quả tang. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Trong khoảng thời gian từ tháng 4 năm 2017 đến ngày 15/7/2018, tại Khóm 8, Phường 1, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo Lâm Quang Đ đã lợi dụng vào kết quả xổ số kiến thiết của Nhà nước để đánh bạc trái phép dưới hình thức chơi số đề được thua bằng tiền với người khác là 18 lần, trong đó số tiền tham gia đánh bạc lần thấp nhất là 5.025.000 đồng, cao nhất là 21.050.000 đồng. Do đó, cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Trong quá trình điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Tăng Thành N và bà Nguyễn Thị C đều thừa nhận có tham gia hoạt động ghi số đề với bị cáo Đ.
- Nguyễn Thị C khai: Vào khoảng tháng 4/2017 đến cuối tháng 3/2018 tôi có nhận phơi đề của Lâm Quang Đ, sau đó do Đ thiếu tiền không trả nên tôi không nhận nữa. Việc giao nhận phơi bằng hình thức Đ nhắn tin qua số điện thoại của tôi là 0949.080XXX hoặc nhắn tin qua tài khoản zalo tên Nguyễn Thị C. Bà C cũng xác định số phơi nhận mỗi ngày bao nhiêu thì bà không nhớ nhưng bà nhớ lần cao nhất là gần 20.000.000đồng, lần 8.800.000đồng; lần 17.600.000đồng, còn nhiều lần khác nhưng bà C không nhớ cụ thể (bút lục 239-240; 387; 587-588; 597-598).
- Tăng Thành N khai: Tôi có nhận phơi đề của Đ qua tài khoản zalo của tôi có tên “Nhan T”. Qua việc đối chiếu, cộng phơi đề có sự xác nhận của Tăng Thành N đã thể hiện N tham gia nhận phơi đề của bị cáo Đ 8 lần có số tiền trên 5.000.000đồng (bút lục 242; 144; 184; 185; 159; 197; 198-100; 220).
Căn cứ vào kết quả điều tra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã ban hành Kết luận điều tra số 38 ngày 16/3/2019 và Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã ban hành Cáo trạng số 44/CT-VKS ngày 19/4/2019 đều xác định ông Tăng Thành N và bà Nguyễn Thị C thừa nhận có tham gia đánh bạc với bị cáo Đ, nhưng vụ án còn nhiều tình tiết phức tạp mà thời gian điều tra không đảm bảo nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách vụ án hình sự số 02 ngày 15/3/2019 đối với hành vi “ghi số đề thắng thua bằng tiền với người khác” của Nguyễn Thị C và Tăng Thành N để điều tra làm rõ, xử lý sau.
Hội đồng xét xử xét thấy: Tại khoản 2 Điều 170 Bộ luật tố tụng hình sự qui định “Cơ quan điều tra chỉ được tách vụ án trong trường hợp cần thiết khi không thể hoàn thành sớm việc điều tra đối với tất cả các tội phạm và nếu việc tách đó không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án”. Trong vụ án này việc tách vụ án là không cần thiết và ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án. Bỡi lẽ, trong quá trình điều tra đã thể hiện rõ hành vi vi phạm pháp luật của ông Tăng Thành N và bà Nguyễn Thị C, cụ thể bị cáo Lâm Quang Đ đánh bạc với Tăng Thành N số tiền đánh bạc trên 5.000.000 đồng là 08 lần; bị cáo Lâm Quang Đ đánh bạc với Nguyễn Thị C với số tiền đánh bạc trên 5.000.000 đồng là 10 lần, nhưng Cơ quan điều tra không khởi tố bị can đối với đối với Tăng Thành N và Nguyễn Thị C để xử lý trong cùng vụ án này là bỏ lọt người phạm tội và việc tách vụ án là vi phạm khoản 2 Điều 170 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thành phố B đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung đối với hành vi của ông N và bà C nhưng không được chấp nhận, do giới hạn của việc xét xử nên Tòa án nhân dân thành phố B chỉ xét xử đối với bị cáo Đ là có căn cứ.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ban hành Quyết định số 18 ngày 16/3/2019 tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự theo Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 02 ngày 16/11/2018 với lý do chưa xác định được đối tượng gây án nhưng đã hết thời hạn điều tra theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 229 Bộ luật Tố tụng hình sự (bút lục 617), ngay sau khi tạm đình chỉ điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B lại căn cứ Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 02 ngày 16/11/2018 để ban hành Kết luận điều tra số 38 ngày 16 tháng 3 năm 2019 (bút lục 643).
Hội đồng xét xử xét thấy: Tại khoản 2 Điều 229 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: “Trường hợp vụ án có nhiều bị can mà lý do tạm đình chỉ điều tra không liên quan đến tất cả các bị can thì có thể tạm đình chỉ điều tra đối với từng bị can”. Trong vụ án này, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B chưa khởi tố bị can đối với ông N, bà C nên không nêu cụ thể tạm đình chỉ đối với ai trong vụ án, mà tạm đình chỉ theo Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 02 ngày 16/11/2018 nên toàn bộ vụ án đã được tạm đình chỉ. Đồng thời, lý do tạm đình chỉ cũng không đúng vì đã xác định được đối tượng là ông N, bà C; ông N, bà C đã tự viết tờ cam kết, lập biên bản ghi lời khai, lập biên bản về việc cộng phơi và đối chiếu số trúng trước ngày khởi tố vụ án (bút lục 242; 593; 595; 589; 239; 105; 387; 175-186; 143-254; 162-174).
Như vậy, việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ban hành Quyết định số 18 ngày 16/3/2019 tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự là không đúng quy định tại Điều 229 Bộ luật Tố tụng hình sự; đồng thời vụ án đã được tạm đình chỉ chưa có Quyết định phục hồi điều tra theo quy định tại Điều 235 Bộ luật Tố tụng hình sự, nhưng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố B, Tòa án nhân dân thành phố B vẫn ban hành Kết luận điều tra, Cáo trạng truy tố và Bản án sơ thẩm là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng vì đã không thực hiện đầy đủ các trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và đã làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án.
Ngoài ra, tại biên bản về việc tự thống kê các phơi số ngày 09/02/2019 (bút lục 231), phần đầu biên bản có thể hiện sự có mặt trong buổi làm việc là Kiểm sát viên Huỳnh Văn N, nhưng phần cuối biên bản không có chữ ký của Kiểm sát viên; tại biên bản làm việc ngày 19/9/2018 (bút lục 107) về việc xác định nội dung tin nhắn trong biên bản kiểm tra điện thoại còn nhiều chỗ bỏ trống trong biên bản, không thể hiện biên bản được kiểm tra là biên bản ngày nào (bút lục 231, 107), vấn đề thiếu sót nêu trên cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
Với những vi phạm nêu trên, Hội đồng xét xử không thể bổ sung, khắc phục tại cấp phúc thẩm được nên hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm số: 66/2019/HS-ST ngày 05 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bạc Liêu để điều tra xét xử lại theo thủ tục chung.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm là có căn cứ nên được chấp nhận.
Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo về nội dung bị cáo Đ yêu cầu xem xét hành vi của ông Tăng Thành N và bà Nguyễn Thị C theo quy định pháp luật; do hủy án sơ thẩm nên Hội đồng xét xử không xem xét đối với nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo kháng cáo được chấp nhận một phần nên không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355; điểm a, c khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự.
1. Hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số: 66/2019/HS-ST ngày 05 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
2. Chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Bạc Liêu để giải quyết theo thủ tục chung.
3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bạc Liêu (02b); - VKSND TP. Bạc Liêu (01b); - Phòng HS nghiệp vụ CA tỉnh Bạc Liêu (01b); - TAND TP. B (02b); - CQĐT TP. B (01b); - Cơ quan THA hình sự Công an TP. B (01b); - Chi cục THADS TP. B (01b); - Sở tư pháp (01b); - Bị cáo (01b); - Lưu:HS, THCTP, THS; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã Ký) Trần Ngọc Như |