- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Bé H và anh Nguyễn Văn C"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 76/2019/HNGĐ-ST Ngày: 15-11-2019 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Trần Thanh Thế.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trương Sô Huy.
2. Bà Phạm Thị Bích Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Như Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn tham gia phiên tòa: Bà Trần Cẩm Tú.
Trong ngày 15 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 164/2019/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2019 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 44/2019/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bé H, sinh năm 1976. (Có mặt)
Địa chỉ: Khu vực Thới Đ, phường P, quận M, thành phố Cần Thơ.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1980. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khu vực T, phường P, quận M, thành phố Cần Thơ. Chỗ ở hiện nay: Khu vực Đ, phường P, quận M, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 17/5/2019 và quá trình giải quyết, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bé H trình bày:
Vào năm 2001, chị và anh Nguyễn Văn C sau một thời gian tìm hiểu đã tự nguyện tiến tới hôn nhân, không có tổ chức lễ cưới nhưng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Phước Thới vào ngày 06/3/2006. Trong thời gian chung sống, chị và anh C sinh được 01 con chung tên Nguyễn Minh N (nữ, sinh ngày 13/9/2006).
Cuộc sống hôn nhân giữa chị và anh C hạnh phúc từ khi cưới đến khi chị mang thai cháu N thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh C nghiện ma túy, gây nợ nần. Khi anh C bị đưa đi cai nghiện thì chị phải tự lo kinh tế gia đình và nuôi con. Sau khi cai nghiện trở về, anh C vẫn không lo làm ăn mà chỉ ăn nhậu rồi về nhà gây chuyện với chị và cha mẹ chị. Năm 2016, chị có nộp đơn ly hôn với anh C nhưng sau đó vì thương con nên chị đã rút đơn khởi kiện tiếp tục chung sống với anh C để lo cho con. Tuy nhiền, từ đó đến nay anh C vẫn không hề sửa đổi nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Nay tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với nhau nên chị khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh C.
Về con chung: Chị yêu cầu được nuôi dưỡng cháu N đến trưởng thành, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã niêm yết, tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đối với bị đơn anh Nguyễn Văn C để tham gia tố tụng tại Tòa án nhưng anh C nhiều lần vắng mặt không có lý do. Do đó, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được nên Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử công khai.
Tại phiên tòa,
- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
- Bị đơn vắng mặt không có lý do.
- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm:
+ Về thủ tục: Tòa án đã thụ lý vụ án và xác định quan hệ tranh chấp đúng quy định. Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công có tiến hành các thủ tục luật định. Do bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung: Căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật: Chị Nguyễn Thị Bé H và anh Nguyễn Văn C tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và điều chỉnh. Quá trình chung sống, có phát sinh mâu thuẫn nên chị H khởi kiện ly hôn. Do đó, quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn anh Nguyễn Văn C đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét quan hệ hôn nhân: Chị H và anh C tiến tới hôn nhân vào năm 2001 và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2005 thì phát sinh mâu thuẫn.
Tại phiên tòa hôm nay, chị H cho rằng mâu thuẫn vợ chồng chủ yếu do anh C nghiện ma túy, không lo làm ăn chăm lo cho gia đình, thường hay nhậu nhẹt, kiếm chuyện với chị và cha mẹ chị. Chị đã nhiều lần khuyên can nhưng anh C không thay đổi, anh C đã đi làm ở xa từ tháng 7/2019 và vợ chồng đã ly thân từ đó đến nay. Trong thời gian ly thân, thỉnh thoảng anh C có về thăm con rồi đi nhưng chị và anh C vẫn không hàn gắn được. Nay chị không thể tiếp tục chung sống với anh C nên chị yêu cầu được ly hôn.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc triệu tập anh C đúng trình tự luật định để tham gia tố tụng tại tòa và có ý kiến đối với hôn nhân của mình nhưng phía anh C nhiều lần vắng mặt không lý do. Điều đó cho thấy anh C đã không còn thiết tha gì đến cuộc hôn nhân này, mâu thuẫn giữa các đương sự đã thực sự trầm trọng và cho đến nay không có biện pháp khắc phục, mục đích hôn nhân cũng không đạt được. Do vậy, yêu cầu ly hôn của chị H đối với anh C là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Trong thời gian chung sống, chị H và anh C có 01 con chung tên Nguyễn Minh N (nữ, sinh ngày 13/9/2006), hiện chị H đang nuôi dưỡng, chị H yêu cầu được nuôi dưỡng cháu N đến trưởng thành, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.
Hội đồng xét xử xét thấy, trong thời gian chị H và anh C còn chung sống cũng như khi vợ chồng ly thân, cháu N được chị H trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, ngoài ra hiện nay cháu N cũng có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với chị H. Do đó, nhằm đảm bảo quyền lợi chính đáng của cháu N, Hội đồng xét xử thiết nghĩ cần giao cháu N cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng đến trưởng thành là phù hợp.
Mặc dù anh C không trực tiếp nuôi con nhưng pháp luật dành cho anh C quyền được thăm nom con chung, không ai được cản trở anh C thực hiện quyền này.
Về việc cấp dưỡng nuôi con, do chị H không yêu cầu anh C cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Từ những phân tích trên cho thấy, quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Do anh C vắng mặt nên chưa xác định được phần tài sản chung và nợ chung của vợ chồng. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết tài sản chung và nợ chung của chị H và anh C. Trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị H phải chịu số tiền 300.000 đồng theo quy định tại Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều:
- Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 51; 56; 57; 81; 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bé H.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Bé H được ly hôn với anh Nguyễn Văn C.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Minh N (nữ, sinh ngày 13/9/2006) cho chị Nguyễn Thị Bé H nuôi dưỡng đến trưởng thành, anh Nguyễn Văn C không cấp dưỡng nuôi con.
Anh C được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản anh C thực hiện quyền này.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết. Trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Bé H phải chịu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Chuyển số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 000094 ngày 27/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn thành án phí (công nhận chị H đã nộp xong).
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP. Cần Thơ; - VKSND Q. Ô Môn; - Chi cục THADS Q. Ô Môn; - UBND P. Phước Thới; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Bùi Trần Thanh Thế |