vanban.org

Bản án 76/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị Thùy Dung.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Thùy D được ly hôn với anh Trần Hoàng Thọ. Về con chung: Giao con chung cháu Trần Hoàng Đạt (nam) sinh ngày 15/7/2009 và Trần Hoàng Phát (nam) sinh ngày 03/3/2012 cho chị D được tiếp tục nuôi dưỡng, chị D không yêu cầu T cấp dưỡng nuôi con chung, anh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly ho"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị Thùy Dung.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH A
Tỉnh Hậu Giang

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 30/9/2019
V/v: Tranh chấp xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hường

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Văn Cho

2. Ông Hồ Thanh Trí

Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hà – kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2019, tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 221/2019/TLST-HNGĐ, ngày 10 tháng 7 năm 2019 về việc Xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 172/2019/QĐXX-ST, ngày 13 tháng 9 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thùy D; địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)

2. Bị đơn: Anh Trần Hoàng T

Địa chỉ cư trú: Ấp 1B, thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang. (Vắng mặt)

NỘI D VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thùy D trình bày: Chị và anh Trần Hoàng T kết hôn trên tinh thần tự nguyện, có làm giấy đăng ký kết hôn vào năm 2008 tại Ủy ban nhân dân Thị trấn Một Ngàn. Cuộc sống chung hạnh phúc đến đầu năm 2018 thì hai bên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm thường xuyên cãi nhau,tính tình không hợp nhau, mâu thuẫn mỗi lúc càng trầm trọng hơn, chị và anh T đã sống ly thân với nhau khoảng 02 năm nay. Hiên chị D không còn tình cảm vợ chồng với anh Thọ, giữa chị và anh T không tìm được tiếng nói chung, khiến hôn nhân lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, nên chị làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Hoàng Thọ.

Về con chung: Chị và anh Trần Hoàng T có 02 con chung tên Trần Hoàng Đạt (nam) sinh ngày 15/7/2009 và Trần Hoàng Phát (nam) sinh ngày 03/3/2012 hiện nay đang sống chung với chị Dung, sau khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có

- Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hòa giải, công khai chứng và tham dự phiên tòa hợp lệ nhiều lần nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Tại phiên tòa hôm nay Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Do đó Tòa án xét xử vắng mặt anh Trần Hoàng Thọ.

Tại phiên Tòa: Nguyên đơn Nguyễn Thị Thùy D có yêu cầu xét xử vắng mặt và bị đơn Trần Hoàng T vắng mặt.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Về thủ tục tố tụng: Xác định việc thụ lý, hòa giải, thu thập chứng cứ cũng như thủ tục tố tụng tại phiên tòa của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định pháp luật, đảm bảo được quyền và lợi ích của đương sự.

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là quan hệ tranh chấp hôn nhân và gia đình, nuôi con chung, cấp dưỡng nuôi con chung thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A theo khoản 1, Điều 28, khoản 1 Điều 36 của Bộ luật tố tụng dân sự

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thùy D xác định chị và Trần Hoàng T kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Một Ngàn vào năm 2008. Như vậy hôn nhân của anh, chị là hôn nhân hợp pháp, chị D xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên chị làm đơn xin ly hôn với anh Thọ. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Dung. Từ những căn cứ trên đề nghị Hội đồng xét xử vào khoản 1 Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58 của Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Thùy D được ly hôn với anh Trần Hoàng Thọ.

Về con chung: Giao con chung cháu Trần Hoàng Đạt (nam) sinh ngày 15/7/2009 và Trần Hoàng Phát (nam) sinh ngày 03/3/2012 cho chị D được tiếp tục nuôi dưỡng, chị D không yêu cầu T cấp dưỡng nuôi con chung, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Án phí buộc chị D phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Chị Nguyễn Thị Thùy D có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang giải quyết cho chị được ly hôn, xét đây là vụ án Xin ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự Bộ luật tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thùy D có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn anh Trần Hoàng T được Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thùy Dung, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ hôn nhân: Giữa chị Nguyễn Thị Thùy D và anh Trần Hoàng T iến tới hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào năm 2008 tại UBND thị trấn Một Ngàn nên hôn nhân giữa chị D và anh T là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống chị D và anh T phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung, khiến hôn nhân lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn. Nay chị D nhận thấy giữa chị và anh T hôn nhân không hạnh phúc, chị không còn tình cảm với anh Thọ, nên chị D làm đơn xin ly hôn với anh T là có cơ sở chấp nhận.

Hội đồng xét xử xét căn cứ vào khoản 1 Điều 53, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Thùy D được ly hôn với anh Trần Hoàng Thọ.

Về con chung: Giao con chung cháu Trần Hoàng Đạt (nam) sinh ngày 15/7/2009 và Trần Hoàng Phát (nam) sinh ngày 03/3/2012 cho chị D được tiếp tục nuôi dưỡng, chị D không yêu cầu T cấp dưỡng nuôi con chung, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thùy D phải chịu 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị Thùy Dung.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Thùy D được ly hôn với anh Trần Hoàng Thọ.

2. Về con chung: Giao con chung cháu Trần Hoàng Đạt (nam) sinh ngày 15/7/2009 và Trần Hoàng Phát (nam) sinh ngày 03/3/2012 cho chị D được tiếp tục nuôi dưỡng, chị D không yêu cầu T cấp dưỡng nuôi con chung, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho anh Trần Hoàng T không ai được quyền cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thùy D phải chịu 300.000 đồng, chuyển tiền tạm ứng án phí chị D đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0021683 ngày 10/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành A thành tiền án phí.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Các đương sự được quyền kháng cáo toàn bộ bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân thị trấn Một Ngàn, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang hợp lệ.

Cỡ chữ