vanban.org

Bản án 76/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 13/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn Đ phạm t i "Mua bán trái phép chất ma túy".

Áp dụng: khoản 1 Điều 251, điểm p, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 B luật hình sự. Xử phạt: bị cáo Hoàng Văn Đ 30 (ba mươi) tháng tù. Th i gian ch p hành án phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo vào trại thụ hình, được trừ đi th i gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/6/2018 đến ngày 26/6/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Hoàng Văn Đ phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 251 BLHS - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Lu…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn Đ phạm t i "Mua bán trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO BẰNG
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76 /2018/HSST
Ngày: 13/11/2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hoài Phương

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nông Văn Vụ

2. Ông Luân Văn Lý

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hanh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tØnh Cao B»ng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 69/2018/HSST ngày 10 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2018/QĐXXST-HS ngày 01/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Văn Đ, tên gọi khác: không; sinh ngày 25/02/1986; nơi sinh: thành phố C; h khẩu thư ng tr : tổ N, phư ng Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; chỗ ở hiện nay: tổ N, phư ng Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; dân t c: tày; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: không nghề; trình đ học v n: 12/12 phổ thông; con ông: Hoàng Quốc H, sinh năm: 1959; con bà: Hoàng Thị H, sinh năm: 1960, cùng tr tại: tổ N, phư ng Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vợ: Hoàng Thị B, sinh năm 1994, tr tại: tổ N, phư ng Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; con: có 01 con sinh năm 2013; anh, chị, em ru t: có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; tiền sự: không; tiền án: không.

Hiện nay bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: bảo lĩnh; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hà Thị Hạnh - Trợ gi p viên pháp lý Trung tâm trợ gi p pháp lý nhà nước tỉnh Cao Bằng; có mặt.

Người làm chứng:

1. Triệu Văn T, sinh năm 1990, HKTT: xóm B, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; có mặt.

2. Lương Chiệu Đ, sinh năm 1981, HKTT: xóm B, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.

3. Dương Văn P, sinh năm 1982, HKTT: tổ M, phư ng Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do bản thân sử dụng ma t y nên khoảng 9 gi ngày 17/6/2018, Hoàng Văn Đ (sinh năm 1986, h khẩu thư ng tr : tổ N, phư ng Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) đi xuống Trung tâm H tỉnh Cao Bằng tìm mua Heroine về sử dụng và bán kiếm l i. Đ gặp 01 ngư i đàn ông khoảng 30 tuổi, không biết tên địa chỉ, dáng giống ngư i nghiện nên Đ hỏi mua ma t y với số tiền 5.500.000 đồng (năm triệu năm trăm nghìn đồng), ngư i đó cầm tiền bảo Đ ch , khoảng 10 ph t sau quay lại đưa cho Đ 01 gói gi y bằng vỏ bao thuốc lá du lịch trắng bên trong có chứa heroine. Đ cầm gói heroine vừa mua được đi về nhà, khi đến nhà Đ l y số Heroine vừa mua được ra sử dụng m t phần bằng cách đốt và hít vào cơ thể. Số Heroine còn lại Đ chia thành 52 (năm mươi hai) gói nhỏ rồi gói bằng gi y bạc màu trắng và để trong lọ nhựa màu đỏ. Số Heroine chưa chia hết Đ chia làm hai phần gói lại bằng gi y trắng có chữ, để trong lọ nhựa màu trắng có chữ và để trong thùng gạo nhà bếp của Đ. Từ ngày 17/6/2018 đến ngày 19/6/2018 Đ sử dụng hết 03 gói heroine. Đến sáng ngày 20/6/2018 Đ l y từ lọ nhựa màu đỏ ra 03 gói Heroine bỏ vào ví da của Đ để sử dụng, số còn lại vẫn để trong lọ nhựa dưới gầm giư ng trong phòng khách nhà Đ. Đến 10 gi cùng ngày Đ l y 01 gói từ ví ra để sử dụng bằng cách đốt hít vào cơ thể, khi đang sử dụng có anh Dương Văn P (sinh năm 1982, HKTT: tổ M, phư ng Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) đến chơi, Đ đã rủ P cùng sử dụng ma t y. Khi Đ và P đang sử dụng ma t y trong phòng khách nhà Đ thì có Lương Chiệu Đ (sinh năm 1981, HKTT: xóm B, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) và Triệu Văn T (sinh năm 1990, HKTT: xóm B, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) đến, T ch ngoài cổng còn Đ đi vào nhà Đ, hỏi Đ mua ma t y với số tiền 100.000 đồng. Đ cầm tiền, đi vào l y lọ nhựa đỏ trong gầm giư ng l y ra 01 gói Heroine được gói bằng gi y bạc màu trắng, nhưng sau đó Đ c t lại vì trong ví của Đ còn có Heroine nên Đ đi ra sân, l y 01 gói Heroine ở ví ra đưa cho Đ rồi quay vào nhà sử dụng ma t y cùng P. Khi Đ vừa quay vào nhà thì Công an đến bắt quả tang và thu giữ toàn b tang vật.

Vật chứng thu giữ:

- 01 gói gi y bạc màu trắng bên trong có chứa ch t b t màu trắng ngà dạng cục lẫn b t do Đ bán cho đối tượng Lương Chiệu Đ và Triệu Văn T (mẫu 1).

- 01 t tiền polime mệnh giá 100.000 đồng là tiền Đ vừa bán ma t y cho Đ và T.

- 01 gói nhỏ gi y bạc bên trong có ch t b t màu trắng được thu giữ ở dưới đ t cạnh chỗ P và Đ đang ngồi trong nhà Đ (mẫu 2).

- 01 gói nhỏ gi y bạc màu trắng bên trong có ch t b t màu trắng được thu giữ trong ví giả da của Đ (mẫu 3).

- 01 lọ nhựa màu đỏ bên trong có 46 gói nhỏ gi y bạc, bên trong t t cả các gói đều chứa ch t b t màu trắng dạng cục lẫn b t được thu giữ ở gầm giư ng trong phòng khách nhà Đ (mẫu 4).

- 01 điện thoại di đ ng màu trắng có chữ OPPO có số Imei: 860885031099399 của Hoàng Văn Đ.

- Tiền Việt Nam 990.000 đồng (chín trăm chín mươi nghìn đồng) trong ví giả da của Hoàng Văn Đ.

- 01 xe máy HONDA Wave RSX màu đồng, biển kiểm soát 11B1 – 037.2B của Lương Chiệu Đ.

- 01 lọ nhựa màu trắng bên trong có 02 (hai) gói gi y trắng có chữ, bên trong mỗi gói đều chứa ch t b t màu trắng ngà dạng cục lẫn b t được thu giữ trong thùng gạo dưới bếp nhà Hoàng Văn Đ (mẫu khám xét).

Hồi 16 gi 30 ngày 20/6/2018 Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng và giám định viên PC54 Công an tỉnh Cao Bằng tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng tang vật thu giữ của Hoàng Văn Đ, Lương Chiệu Đ và Hoàng Văn T. Kết quả cân:

- Mẫu 01 có khối lượng tang vật là: 0,03g (không phẩy không ba gam).

- Mẫu 02 có có khối lượng tang vật là: 0,01g (không phẩy không m t gam).

- Mẫu 03 có khối lượng tang vật là: 0,22 g (không phẩy hai mươi hai gam).

- Mẫu 04 có khối lượng tang vật là: 1,35g (m t phẩy ba năm gam).

- Mẫu khám xét có khối lượng tang vật là: 1,66g (m t phẩy sáu mươi sáu gam).

Tổng khối lượng tang vật là: 3,27g (ba phẩy hai mươi bảy gam).

Ngày 25/6/2018 cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng ra quyết định trưng cầu giám định số 89 gửi PC54 Công an tỉnh Cao Bằng yêu cầu giám định ch t b t màu trắng vụ Hoàng Văn Đ. Tại Bản kết luận giám định số 131/GĐMT ngày 30/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: “05 mẫu chất bột màu trắng trong năm phong bì gửi giám định đều là ma túy, loại: Heroine”.

* Heroine là chất ma túy nằm trong Danh mục I, STT: 20, Nghị định số: 82/2013/NĐCP, ngày 19/7/2013 của Chính phủ.

Hành vi trên đây của Hoàng Văn Đ đã bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy tố về t i Mua bán trái phép ch t ma t y theo quy định tại khoản 1 Điều 251 B luật hình sự.

Tại bản Cáo trạng số 701/CT-VKSTP ngày 08/10/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Hoàng Văn Đ vÒ téi "Mua bán trái phép ch t ma t y” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 B luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn Đ thừa nhận hành vi phạm t i của mình đ ng như n i dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nh t trí với trọng lượng ma t y bị thu giữ và n i dung bản kết luận giám định số 131/GĐMT ngày 30/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng. Về vật chứng bị thu giữ: chiếc điện thoại OPPO bị cáo sử dụng để liên lạc với ngư i thân, số tiền 990.000 đồng là tiền trợ c p thương tật vì bị cáo m t sức khỏe 81%, điện thoại và số tiền 990.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm t i nên đề nghị trả lại cho bị cáo, còn số tiền 100.000 đồng là tiền bị cáo bán ma t y cho Đ mà có. Bị cáo khai nhận ngày 20/6/2018 bị cáo chỉ bán ma t y cho Đ, bị cáo không quen T và cũng không biết T đi cùng Đ, đến khi công an bắt quả tang thì bị cáo mới biết T cũng có mặt ở đó.

Ngư i làm chứng Triệu Văn T khẳng định khi cùng Đ đến trước cửa nhà Đ thì chỉ m t mình Đ vào hỏi mua ma t y, còn T đứng ở ngoài ch , do đó, Đ không biết T đi mua ma t y cùng Đ.

Ngư i làm chứng Dương Văn P khai khi sử dụng ma t y ở nhà Đ không bị thu tiền hay tài sản gì.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Hoàng Văn Đ khai nhận chỉ biết có Lương Chiệu Đ đến mua Heroine, không biết Triệu Văn T đi cùng Đ và T đứng đợi ngoài cổng đồng th i bị cáo Hoàng Văn Đ cũng không biết Lương Chiệu Đ và Triệu Văn T góp tiền mua chung ma t y, ý thức chủ quan của bị cáo Hoàng Văn Đ là bán Heroine cho 1 ngư i là Lương Chiệu Đ do vậy mặc dù tại bản Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng truy tố Hoàng Văn Đ theo khoản 2 Điều 249 B luật hình sự năm 2015 tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay, căn cứ Điều 319, khoản 3 Điều 321 B luật tố tụng hình sự năm 2015, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng kết luận về t i nhẹ hơn đối với bị cáo Hoàng Văn Đ: đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s, điểm p khoản 1 Điều 51 B luật hình sự năm 2015, tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Đ phạm t i "Mua bán trái phép chất ma túy". Đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Văn Đ với mức án từ 30 đến 36 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng, đề nghị xử tịch thu tiêu hủy phong bì niêm phong tang vật cân quả tang mẫu 03, mẫu 04, tang vật cân khám xét, trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di đ ng OPPO và số tiền 990.000 đồng do không liên quan đến hành vi phạm t i, tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 100.000 đồng do phạm t i mà có. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận, bị cáo tự trình bày l i bào chữa cho mình: bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, vì bị cáo bị bệnh nên mới sử dụng ma t y. Bị cáo hối hận về hành vi của mình nên mong H i đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nh t.

Ngư i bào chữa trình bày luận cứ bào chữa cho bị cáo: nh t trí với quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng về xác định t i danh, điều khoản áp đụng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Đề nghị H i đồng xét xử áp dụng Điều 54 B luật hình sự 2015 quyết định mức th p nh t của khung hình phạt đối với bị cáo.

Kiểm sát viên không nh t trí đề nghị áp dụng Điều 54 B luật hình sự 2015 quyết định mức th p nh t của khung hình phạt đối với bị cáo.

Khi được nói l i sau cùng, bị cáo đề nghị H i đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nh t.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, H i đồng xét xử xét th y như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của B luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về t i danh: hồi 10 gi 30 ngày 20/6/2018 tại nhà ở của Hoàng Văn Đ tại tổ N, phư ng Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Hoàng Văn Đ đã có hành vi bán trái phép ch t ma t y (01 gói Heroine) cho Lương Triệu Đ với giá 100.000 đồng (m t trăm nghìn đồng). Tiến hành bắt, khám xét ngư i chỗ ở, đồ vật đối với Hoàng Văn Đ thu giữ 48 gói Heroine (bao gồm cả số Heroine Đ và P đang sử dụng chưa hết) có tổng khối lượng là 3,27g (ba phẩy hai mươi bảy gam). Số ma t y trên Đ khai nhận mục đích để sử dụng cho bản thân và bán kiếm l i.

Hành vi của bị cáo xâm phạm đến chế đ đ c quyền quản lý của nhà nước về các ch t ma t y, gây m t trật tự trị an, an toàn xã h i và gây ra tâm lý hoang mang lo ngại trong quần ch ng nhân dân. Bị cáo có trình đ học v n lớp 12/12 phổ thông, là ngư i có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã h i và vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố c u thành t i “Mua bán trái phép ch t ma t y” theo Điều 251 B luật hình sự.

Về tình tiết định khung:

H i đồng xét xử xét th y: khi Đ đến nhà bị cáo hỏi mua ma t y thì bị cáo chỉ nhìn th y Đ mà không th y T ở ngoài cổng, và khi giao dịch mua bán ma t y bị cáo cũng chỉ giao dịch với m t mình Đ, bản thân Đ cũng không nói cho bị cáo về nguồn gốc số tiền 100.000 đồng nên bị cáo không biết số tiền 100.000 đồng do Đ và T góp tiền với nhau để mua ma t y. Do đó, ý thức chủ quan của bị cáo là bán ma t y cho Đ chứ không phải bán cho Đ và T nên H i đồng xét xử xét th y hành vi của bị cáo không thu c trư ng hợp phạm t i "đối với 02 ngư i trở lên" nên hành vi của bị cáo thu c trư ng hợp quy định tại khoản 1 Điều 251 B luật hình sự.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: bị cáo không có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm t i của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là "Người phạm tội thành khẩn khai báo" quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 B luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo là ngư i khuyết tật, căn cứ theo biên bản giám định khả năng lao đ ng tỉ lệ m t sức lao đ ng là 85%, thu c đối tượng được trợ c p xã h i hàng tháng, do vậy bị cáo được hưởng m t tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 51 B luật hình sự năm 2015.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Về hình phạt:

H i đồng xét xử xét th y mặc dù bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 51 B luật hình sự nhưng căn cứ tính ch t, mực đ nguy hiểm của hành vi phạm t i, xét th y phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc mới đủ mới đủ răn đe, giáo dục bị cáo trở thành ngư i công dân có ích cho gia đình và xã h i. Mức đề nghị hình phạt của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng đối với bị cáo hoàn toàn phù hợp cần được ch p nhận.

Ngoài hình phạt chính, theo khoản 5 Điều 249 B luật hình sự bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng xét th y bị cáo là con nghiện, không có nghề nghiệp, không có thu nhập, do vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về nguồn gốc số Heroine Đ khai nhận mua tại Trung tâm H tỉnh Cao Bằng với m t ngư i đàn ông khoảng 30 tuổi, không biết tên, địa chỉ. Việc trao đổi mua bán không ai biết, cơ quan điều tra đang tiến hành điều tra xác minh làm rõ, nếu có đủ căn cứ sẽ xử lý trong m t vụ án khác.

Đối với Lương Chiệu Đ, Triệu Văn T và Dương Văn P, quá trình điều tra xác minh xét th y chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã tiến hành trả tự do và ra quyết định xử phạt hành chính đối với Lương Chiệu Đ, Triệu Văn T và Dương Văn P về hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép ch t ma t y là đ ng pháp luật.

Về xử lý vật chứng và tài sản:

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE RSX biển kiểm soát 11B1 – 037.2B, qua điều tra xác minh chủ sở hữu chiếc xe là chị Đàm Thị T là vợ của Lương Chiệu Đ, do chị Đàm Thị T đứng tên đăng kí sở hữu. Xét th y chiếc xe không liên quan đến vụ án đang điều tra nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã trả lại cho chủ sở hữu là đ ng pháp luật.

Chiếc điện thoại di đ ng OPPO là tài sản của bị cáo dùng để liên lạc với ngư i thân hàng ngày, không liên quan đến hành vi phạm t i nên cần trả lại cho bị cáo.

Số tiền 990.000 đồng là tiền trợ c p thương tật của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm t i nên cần trả lại cho bị cáo nhưng cần tạm giữ số tiền này để đảm bảo thi hành án.

Số tiền 100.000 đồng là tiền bị cáo bán ma t y cho Đạo mà có nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Vật chứng còn lại là đồ vật c m lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn Đ phạm t i "Mua bán trái phép chất ma túy".

Áp dụng: khoản 1 Điều 251, điểm p, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 B luật hình sự.

Xử phạt: bị cáo Hoàng Văn Đ 30 (ba mươi) tháng tù. Th i gian ch p hành án phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo vào trại thụ hình, được trừ đi th i gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/6/2018 đến ngày 26/6/2018.

2. Về xử lý vật chứng và tài sản:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 B luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 B luật tố tụng hình sự, xử:

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (m t) phong bì niêm phong tang vật cân quả tang (mẫu 03) ghi vụ: Hoàng Văn Đ, SN 1986, HKTT: tổ N, phư ng Đ, thành phố C; mặt sau có chữ kí của những ngư i tham gia niêm phong và 03 (ba) d u tròn của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng.

- 01 (m t) phong bì niêm phong tang vật cân quả tang (mẫu 04) ghi vụ: Hoàng Văn Đ, SN 1986, HKTT: tổ N, phư ng Đ, thành phố C; mặt sau có chữ kí của những ngư i tham gia niêm phong và 03 (ba) d u tròn của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng.

- 01 (m t) phong bì niêm phong tang vật cân khám xét ghi vụ: Hoàng Văn Đ, SN 1986, HKTT: tổ N, phư ng Đ, thành phố C, mặt sau có chữ kí của những ngư i tham gia niêm phong và 03 (ba) d u tròn của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 (m t) phong bì niêm phong tiền Việt Nam 100.000đ (m t trăm nghìn đồng) ghi vụ: Hoàng Văn Đ, SN 1986, HKTT: tổ N, phư ng Đ, thành phố C, mặt sau có chữ kí của những ngư i tham gia niêm phong và 03 (ba) d u tròn của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng.

Trả lại cho bị cáo:

- 01 (m t) phong bì niêm phong tiền Việt Nam 990.000đ (chín trăm chín mươi nghìn đồng) ghi vụ: Hoàng Văn Đ, SN 1986, HKTT: tổ N, phư ng Đ, thành phố C, mặt sau có chữ kí của những ngư i tham gia niêm phong và 03 (ba) d u tròn của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng nhưng cần tạm giữ số tiền này để đảm bảo thi hành án.

- 01 (m t) phong bì niêm phong điện thoại di đ ng màu trắng có chữ OPPO ghi vụ: Hoàng Văn Đ, SN 1986, HKTT: tổ N, phư ng Đ, thành phố C, mặt sau có chữ kí của những ngư i tham gia niêm phong và 03 (ba) d u tròn của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng.

Xác nhận số vật chứng này hiện nay đang nằm tại kho tang vật của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/8/2018.

3. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 135 B luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử bu c bị cáo Hoàng Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo:

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ