- Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Mạnh H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình s…"
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 76/2018/HSST. Ngày: 09-4-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Chiến.
Các Hội thẩm nhân nhân:
1. Ông Nguyễn Hữu Hải
2. Bà Lý Thị Vinh
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Tiến Dũng - Thư ký Toà án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Lầu A Thống – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TC mở phiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 89/2017/HSST ngày 29 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2018/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:
Quàng Mạnh H; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1984 tại huyện QN, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản TN, xã CL, huyện TC, tỉnh Sơn La; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Trồng trọt; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quàng Văn D, sinh năm 1961 và bà Hà Thị H, sinh năm 1963; Bị cáo có vợ: Lò Thị X, sinh năm: 1983 và 02 con, lớn nhất: 11 tuổi, nhỏ nhất: 05 tuổi; tiền án, tiền sự: Không có; Bị bắt tạm giam ngày 26/12/2017 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 25-12-2017 Quàng Mạnh H thuê xe ôm từ nhà xuống xã TL để tìm mua ma túy về sử dụng, khi đến ngã ba xã Tông Lạnh thì H gặp và mua được của một thanh niên ( H không biết họ tên, địa chỉ ở đâu) 01 gói ma túy và 02 viên hồng phiến gói bằng nilon màu trắng với giá 300.000 đồng, mua được ma túy, H cất số ma túy vào túi áo bên trong đằng trước ngực áo khoác da đang mặc rồi thuê xe ôm về nhà. Về đến nhà H lấy 01 viên hồng phiến ra sử dụng, sau khi sử dụng xong, còn lại heroin H gói lại bằng mảnh nilon màu trắng cất vào bên trong túi áo khoác đang mặc, còn viên hồng phiến gói bằng mảnh nilon màu trắng cất vào túi quần đằng trước bên phải đang mặc để sử dụng dần. Đến khoảng 12 giờ ngày 26-12-2017 H thuê xe ôm từ nhà xuống nhà Nguyễn Kiều H, trú tại: TK 3 – thị trấn TC thuê xe ô tô BKS: 26A – 051.04 của H để đi tập lái. Sau khi thuê được xe ô tô H điều khiển xe đi đến bản Nà C – TC để đón Lò Văn Q đi tập lái, gặp nhau Q xin H cho Q điều khiển, H đồng ý và chuyển sang ghế phụ cạnh lái và cởi áo khoác da H đang mặc bên trong có gói ma túy xuống dãy ghế sau bên lái. Sau đó Q điều khiển xe chở H lên Thị trấn TC để tập lái. Trên đường đi H gọi điện cho Quàng Thị Th, trú tại: bản NC – TM – TC rủ Th đi tập lái cùng, Th đồng ý và bảo H qua nhà đón Th, khi H đến đón được Th thì H bảo Q đổi cho H lái xe, Q sang ngồi ghế phụ cạnh lái, còn Th ngồi ở hàng ghế sau ghế lái. Khi H, Q, Th đến khu vực TK 13 – TT TC thì H dừng xe và đi vào quán bán hàng Vinh Hoa để mua ít đồ dùng, còn Q và Th ngồi đợi trong xe, khi H mua đồ xong và quay lại ô tô thì bị tổ công tác Công an huyện TC đang làm nhiệm vụ yêu cầu kiểm tra ma túy H và xe thì phát hiện, bắt quả tang và thu giữ cùng tang vật nêu trên. ( BL 38 - 56 HS ).
Vật chứng thu giữ gồm: Một gói nilon màu trắng, bên trong chứa một viên nén màu hồng hình trụ trong nghi là ma túy tổng hợp thu trên người H ( H khai nhận là ma túy tổng hợp); Một gói nilon màu trắng bên trong chứa một ít bột cục màu trắng nghi là heroin thu trong túi áo trước ngực của H để ở dãy ghế sau xe ô tô BKS: 26A – 051.04 do H điều khiển; Một chiếc xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI BKS: 26A – 051.04 màu sơn trắng, số máy: 640904, số khung: 099103, đã qua sử dụng cũ; Một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng, số IMEI 1: 865635039038812, số IMEI 2: 865635039038804, đã qua sử dụng cũ. ( BL 15 - 18 HS ).
Hồi 18 giờ ngày 26-12-2017 tại Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành cân tịnh số ma túy thu giữ của Quàng Mạnh H. Dùng cân điện tử cân tịnh toàn bộ số bột cục màu trắng thu giữ của H có trọng lượng 0,23 gam ( Không phẩy hai mươi ba gam), rút 0,05 gam ( Không phẩy không năm) làm mẫu vật gửi giám định ký hiệu H1, còn lại 0,18 gam ( Không phẩy mười tám gam) nhập kho vật chứng ký hiệu H2. Cân tịnh tiếp 01 viên nén màu hồng hình trụ tròn có trọng lượng 0,10 gam ( Không phẩy mười gam), lấy toàn bộ 0,10 gam gửi giám định ký hiệu H3.
Tại kết luận giám định số: 142/KLMT ngày 29-12-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La kết luận: “ Mẫu gửi giám định ký hiệu H1 là chất ma túy; Loại chất Heroin; Trọng lượng của mẫu gửi giám định là 0,05 gam, Mẫu gửi giám định ký hiệu H3 là chất ma túy; Loại chất Methamphetamine; Trọng lượng của mẫu gửi giám định là 0,10 gam. Tổng trọng lượng chất ma túy thu giữ là 0,23 gam; Loại chất Heroin và 0,10 gam, loại chất Methamphetamine. Các mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định”. (BL 27 - 29 HS).
Căn cứ nghị quyết số 01/2001/NQ – HĐTP ngày 15-3-2001 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn quy đổi chất ma túy khác ở thể rắn sang heroin thì 0,10 gam Methamphetamine tương đương với 0,03 gam heroin.
Tại phiên tòa, lời khai, lời trình bày ý kiến của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án như: biên bản hỏi cung bị can; biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ, niêm phong, mở niêm phong vật chứng của vụ án để lấy mẫu giám định; kết luận giám định.
Tại bản cáo trạng số 56/CT-VKS ngày 27-3-2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La đề nghị truy tố bị can Quàng Mạnh H về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TC giữ quyền công tố luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với Quàng Mạnh H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Quàng Mạnh H phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo. Đề nghị xử phạt bị cáo Quàng Mạnh H mức án từ 12 đến 18 tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 26-12-2017 ( là ngày bắt giữ bị cáo ).
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tuyên:
Tịch thu tiêu hủy 0,18 gam (không phẩy mười tám gam) chất bột Hêrôin ký hiệu H2 được niêm phong trong phong bì thư.
Trả lại cho bị cáo Quàng Mạnh H 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng, số IMEI 1: 865635039038812, số IMEI 2: 865635039038804, đã qua sử dụng cũ.
Bị cáo Quàng Mạnh H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo Quàng Mạnh H: Nhất trí với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát đề nghị truy tố, xét xử bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Nay bị cáo đã thực sự nhận ra lỗi lầm, bị cáo rất ân hận, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sơm trở về hòa nhập với cộng đồng, bị cáo xin được miễn hình phạt bổ sung.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TC Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét hành vi tàng trữ trái phép 0,23 gam loại chất Hêrôin và 0,10 gam loại chất Methamphetamin của bị cáo Quàng Mạnh H nhằm mục đích sử dụng cho bản thân là vi phạm pháp luật. Bởi bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự để nhận thức được hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999 như quan điểm truy tố và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TC.
Tại Điều 194 BLHS 1999 quy định:
“ 1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.
Theo Nghị quyết số số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội, Khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 đối với bị cáo Quàng Mạnh H để xét xử theo hướng có lợi cho bị cáo, tạo cơ hội cho bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
Tại Điều 249 BLHS 2015 quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
………………………….
c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
……………………………
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bởi: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma tuý và là nguyên nhân làm gia tăng những tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội và an ninh quốc gia. Do đó cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 có mức hình phạt từ 01 đến 05 năm đối với bị cáo Quàng Mạnh H.
Xét nhân thân bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn phạm tội nên cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật trong việc đấu tranh với tệ nạn ma túy. Cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo để trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tàng trữ lượng ma túy không lớn, mục đích chỉ để sử dụng cho bản thân; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015.
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự 2015.
Đối với hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS 2015. Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, thông qua biên bản xác minh thì bị cáo không có tài sản gì có giá trị nên không có khả năng thi hành nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng vụ án:
- Đối với 0,18 gam (không phẩy mười tám gam) chất bột Hêrôin ký hiệu H2 là vật Nhà nước cấm lưu hành. Nên áp dụng Điều 47 BLHS 2015 và Điều 106 BLTTHS năm 2015, để tuyên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng, số IMEI 1: 865635039038812, số IMEI 2: 865635039038804, đã qua sử dụng cũ. Theo tài liệu có trong hồ sơ và lời khai, lời trình bày của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay, xác định được chiếc điện thoại trên không liên quan tới vụ án, nên cần áp dụng Điều 106 BLTTHS năm 2015 tuyên trả lại cho bị cáo.
- Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI BKS: 26A – 051.04 màu sơn trắng, số máy: 640904, số khung: 099103, đã qua sử dụng cũ. Quá trình điều tra chiếc xe trên thuộc sở hữu hợp pháp của anh Nguyễn Kiều Hưng, sinh năm: 1981, trú tại: Tiểu khu 3 – TT TC – TC cho bị cáo H thuê và có hợp đồng thuê xe. Việc bị cáo H tàng trữ trái phép chất ma túy trên xe anh Hưng không biết, đồng thời đã có đơn xin lại xe. Do vậy HĐXX chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện TC ra quyết định xử lý vật chứng bằng cách trao trả lại chiếc xe cho chủ sở anh Nguyễn Kiều Hưng.
Đối với người thanh niên bán ma túy cho bị cáo H ở ngã ba Tông Lạnh – TC – Sơn La nhưng do bị cáo H không biết rõ họ tên, địa chỉ cụ thể của đối tượng đó nên không có căn cứ để yêu cầu cơ quan CSĐT điều tra xử lý.
Đối với Lò Văn Q, sinh năm: 1988, trú tại: bản Nà Cáy – TC – TC và Quàng Thị Th, sinh năm: 1975, trú tại: bản NC – TM – TC là người đi cùng xe ô tô với bị cáo Quàng Mạnh H. Quá trình điều tra Q và Th không biết bị cáo H tàng trữ trái phép chất ma túy, do vậy Cơ quan CSĐT Công an huyện TC không xử lý đối với Q và Th là có căn cứ.
[11 ] Bị cáo đang bị tạm giam, cần tiếp tục giam giữ bị cáo trong hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án, theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Quàng Mạnh H phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
2. Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; Khoản 3 Điều 7; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 xử phạt bị cáo Quàng Mạnh H 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 26-12-2017 ( là ngày bắt giữ bị cáo ).
3. Xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tuyên:
Tịch thu tiêu hủy 0,18 gam (không phẩy mười tám gam) chất bột Hêrôin ký hiệu H2 được niêm phong trong phong bì thư.
Trả lại cho bị cáo Quàng Mạnh H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng, số IMEI 1: 865635039038812, số IMEI 2: 865635039038804, đã qua sử dụng cũ.
Chấp nhận việc cơ quan CSĐT Công an huyện TC, tỉnh Sơn La đã trao trả lại 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI BKS: 26A – 051.04 màu sơn trắng, số máy: 640904, số khung: 099103, đã qua sử dụng cũ cho chủ sở hữu hợp pháp anh Nguyễn Kiều Hưng, sinh năm: 1981, trú tại: Tiểu khu 3, thị trấn TC, huyện TC, tỉnh Sơn La.
4. Án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Quàng Mạnh H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
5. Về quyền kháng cáo:
Áp dụng các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Báo cho bị cáo Quàng Mạnh H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND (02 bản); - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La - CA huyện TC; - Chi cục THADS huyện TC; - UBND xã Chiềng Ly, H. TC; - Bị cáo; - Lưu án văn; - Lưu:Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Chiến |