vanban.org

Bản án 76/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 17/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần V, phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Trần V 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm từ ngày tuyên án sơ thẩm (17/7/2018). Giao bị cáo Trần V cho UBND phường C, thị xã C, tỉnh Đồng Nai quản lý, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần V - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần V, phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN LỘC
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2018/HS-ST
Ngày 17-7-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Văn Lễ.

Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Hồ Phi Công.

2. Ông Trần Văn Xuân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 74/2018/HSST ngày 18 tháng 6 năm 2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2018/QĐXXST-HS ngày 02/7/2018 đối với bị cáo:

Trần V, sinh năm 1995; tại: Đồng Nai.

Nơi cư trú: khu phố A, phường B, thị xã C, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần H và bà Phạm Thị T; vợ, con: chưa; tiền án: không; tiền sự: không. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Bà Trần Nhì M, sinh năm: 1955 (Đã chết).

Địa chỉ: Ấp G, xã H, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Nguyễn Minh Đ, sinh năm: 1987. (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp M, xã N, thị xã C, tỉnh Đồng Nai.

- Người làm chứng: Bà Lê Thị Thanh H, sinh năm: 1965. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp L, xã H, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ 50 phút ngày 26/02/2018, Trần V điều khiển xe mô tô biển số 60B2-236.91 lưu thông trên làn đường xe hỗn hợp bên phải Quốc lộ 1A theo hướng tỉnh Bình Thuận đi thành phố Hồ Chí Minh. Đến 10 giờ 54 phút cùng ngày, khi lưu thông đến Km 1810 + 600m thuộc ấp Hòa Hợp, xã Bảo Hòa, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai (đoạn đường có biển báo giao thông chỉ dẫn người đi bộ sang đường ở phía trước), V phát hiện bà Trần Nhì M đang đi bộ từ bên trái qua phần đường bên phải quốc lộ 1A trên vạch đi bộ qua đường và đã đi đến gần vạch phân làn đường bên phải Quốc lộ 1A theo hướng lưu thông trên. Lúc này, do có 01 xe mô tô (không xác định được người điều khiển, biển số xe) chạy cùng chiều, cùng làn đường, ngay phía trước xe mô tô V đến, bà M liền dừng lại nhường đường cho xe mô tô trên chạy qua trước, V chủ quan bà M vẫn đứng lại nên không giảm tốc độ lưu thông của xe, không nhường đường cho bà M, nhưng ngay khi xe mô tô chạy phía trước V vừa chạy qua thì bà M tiếp tục đi sang làn đường xe hỗn hợp bên phải Quốc lộ 1A. Lúc này, xe mô tô biển số 60B2-236.91 V điều khiển chạy đến, do khoảng cách gần, V không kịp tránh nên phần đầu tay cầm lái bên trái của xe mô tô biển số 60B2-236.91 do V điều khiển đã va chạm vào phần ngực, bụng bà M làm bà M ngã xuống vạch đi bộ qua đường trên làn xe hỗn hợp nêu trên gây tai nạn giao thông, sau va chạm V cùng xe mô tô biển số 60B2-236.91 ngã qua phải, trượt về phía trước qua lề phải Quốc lộ 1A.

Hậu quả: Bà Trần Nhí M bị thương nặng, được đưa đi cấp cứu sau đó chết tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai vào ngày 28/02/2018.

Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 133/PC54-KLGĐPY, ngày 01/3/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai, kết luận nguyên nhân tử vong của bà Trần Nhí M là: Đa chấn thương, gãy xương ức, thủng tiểu tràng, rách động mạch mạc treo tiểu tràng, gãy đầu dưới xương đùi trái. Hậu phẫu ngày thứ hai không hồi phục (viêm phúc mạc, sốc nhiễm trùng).

Tại kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Trần V ngay sau khi xảy ra tai nạn: 0mg/1lit khí thở.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 26/02/2018 thể hiện:

Đoạn đường nơi xảy ra vụ tai nạn là đường thẳng, thảm nhựa bằng phẳng, mặt đường rộng 13,8m; ở giữa có dải phân cách cứng rộng 01m, phân chia 02 chiều xe ngược chiều, mỗi bên có 02 làn đường: Làn đường dành cho xe có động cơ (chỉ cho phép phương tiện xe ô tô các loại lưu thông) rộng 3,5m và làn đường xe hỗn hợp rộng 3,4m, giữa 02 làn đường có vạch đơn, đứt nét, màu trắng (vạch phân làn), trên mặt đường tại 02 đầu dải phân cách mở có vạch đi bộ qua đường. Qúa trình khám nghiệm hiện trường chọn hướng lưu thông tỉnh Bình Thuận đi thành phố Hồ Chí Minh làm chuẩn, mô tả như sau:

- Sau tai nạn, xe mô tô biển số 60B2-236.91 nằm bên phải dãy phân cách, trên làn đường dành cho xe hỗn hợp xe ngã qua phải, đầu xe hướng thành phố Hồ Chí Minh đuôi xe hướng Bình Thuận. Trục bánh trước cách mép phải đường 30cm, trục bánh sau ngay trên mép phải đường và cách cuối vạch sơn dành cho người đi bộ về hướng thành phố Hồ Chí Minh 2m40. Nối liền với vị trí xe nằm là vết cày hơi cong, rõ nét dài 4m80, đầu vết cày hướng Bình Thuận, trên làn đường dành cho xe hỗn hợp, trên vạch sơn dành cho người đi bộ cách mép phải đường 1m10.

- Trên làn đường dành cho xe hỗn hợp, trên vạch sơn dành cho người đi bộ có vết máu phạm vi (10 x 13)cm, tâm vết máu cách mép phải đường 2m20 và cách đầu vết cày mô tô biển số 60B2-236.91 về hướng thành phố Hồ Chí Mình 1m50.

- Trong lề phải đường, cách trục bánh trước mô tô biển số 60B2-236.91 về hướng thành phố Hồ Chí Minh 24m00 là cột Km 1810+600 chọn làm mốc hiện trường vụ tai nạn tại Km 1810+540, trong lề đất bên phải Quốc lộ 1A có biển báo chỉ dẫn phía trước đường người đi bộ sang ngang.

Điểm đụng: Vị trí đụng giữa xe mô tô 60B2.236.91 và người: Phần đầu tay cầm lái bên trái xe mô tô biển số 60B2-236.91 với phần ngực, bụng bà Trần Nhì Múi trên vạch đi bộ qua đường, thuộc làn đường xe hỗn hợp bên phải quốc lộ 1A (tính theo hướng lưu thông tỉnh Bình Thuận đi thành phồ Hồ Chí Minh).

Vật chứng vụ án:

- 01 (một) xe mô tô biển số 60B2-236.91 do Trần V đứng tên sở hữu Trần V, có giấy tờ hợp lệ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Xuân Lộc đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả xe mô tô trên cho Trần V.

- 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 số 750131010617 do Sở giao thông vận tải tỉnh Đồng Nai cấp ngày 05/9/2013 của Trần V.

- 01 (một) dĩa DVD có chứa hình ảnh dữ liệu điện tử (Camera ghi hình) ghi nhận diễn biến liên quan vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra khoảng 10 giờ 54 phút ngày 26/02/2018.

Về trách nhiệm dân sự:

- Sau tai nạn, Trần V đã đến gia đình bà Trần Nhì M thăm hỏi và thỏa thuận bồi thường về mặt dân sự với số tiền 66.000.000 đồng (Sáu mươi sáu triệu đồng). Đại diện hợp pháp của bà Trần Nhí M là anh Nguyễn Minh Đ đã nhận đủ số tiền trên, đã làm đơn bãi nại, đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Trần V, cam kết không yêu cầu gì về dân sự đối với vụ tai nạn giao thông trên.

- Đối với Trần V sau tai nạn chỉ bị trầy xước nhẹ, không ảnh hưởng gì lớn nên Trần V đã từ chối giám định thương tích, không yêu cầu gì về bồi thường dân sự, cam kết không thắc mắc thiếu nại gì về sau.

Tại bản Cáo trạng số 86/CT-VKS-HS ngày 18 tháng 6 năm 2018, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc đã truy tố bị cáo Trần V, về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1, Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc giữ nguyên quan điểm truy tố theo bản cáo trạng và đề nghị:

Về tình tiết tăng nặng: Không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Trần V có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau tai nạn đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại đã làm đơn bãi nại, cam kết không yêu cầu gì về dân sự đối với vụ tai nạn giao thông trên đồng thời làm đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho Trần V. Tại phiên tòa đại diện hợp pháp của người bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo V. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điểm a Khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015;

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt: Bị cáo Trần V mức án từ 12 tháng tù đến 14 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 tháng đến 28 tháng.

Bị cáo Trần V nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa bị cáo Trần V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Vào khoảng 10 giờ 50 phút ngày 26/02/2018, Trần V điều khiển xe mô tô biển số 60B2-236.91 lưu thông bên phải Quốc lộ 1A theo hướng tỉnh Bình Thuận đi thành phố Hồ Chí Minh. Đến 10 giờ 54 phút cùng ngày, khi lưu thông đến gần Km 1810 + 600m thuộc ấp Hòa Hợp, xã Bảo Hòa, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai (đoạn đường có biển báo giao thông chỉ dẫn người đi bộ sang đường ở phía trước), V quan sát phía trước thấy bà Trần Nhì M đang đi bộ trên vạch kẻ đường dành cho người đi bộ qua đường theo hướng từ phần đường bên trái sang phần đường bên phải quốc lộ 1A (tính theo hướng lưu thông Bình Thuận đi thành phố Hồ Chí Minh) nhưng V không giảm tốc độ lưu thông của xe, không nhường đường cho bà M nên phần đầu tay cầm lái bên trái của xe mô tô biển số 60B2-236.91 do V điều khiển đã va chạm vào phần ngực, bụng bà M gây tai nạn giao thông. Hậu quả: Bà Trần Nhì M bị thương nặng, được đưa đi cấp cứu sau đó chết tại bệnh viện Đa khoa Đồng Nai vào ngày 28/02/2018.

Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Trần V, về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1, Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Bị cáo là công dân có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Bị cáo có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 vậy mà khi điều khiển xe mô tô lưu thông trên đường bị cáo không tuân thủ các nguyên tắc an toàn giao thông, tại nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ bị cáo không quan sát giảm tốc độ nhường đường cho người đi bộ dẫn đến tai nạn giao thông gây hậu quả nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại cho tính mạng của bà M. Lỗi trong vụ án này do bị cáo V gây ra, bị hại cũng có một phần lỗi khi băng qua đường tự dừng lại rồi tiếp tục đi tới làm bị cáo khó phán đoán và định hướng đi của bị hại, nên xảy ra vụ án. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần V có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau tai nạn đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại đã làm đơn bãi nại, cam kết không yêu cầu gì về dân sự đối với vụ tai nạn giao thông trên đồng thời làm đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Tại phiên tòa đại diện hợp pháp của người bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo V.

Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, điều luật đã viện dẫn Hội đồng xét xử thấy chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội, giao bị cáo về chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Sau tai nạn, bị cáo Trần V đã đến gia đình bà Trần Nhì M thăm hỏi và bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại nên đại diện hợp pháp của bà M là anh Nguyễn Minh Đ không yêu cầu gì về dân sự đối nên không xem xét về mặt dân sự là phù hợp.

Về vật chứng vụ án:

- Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 60B2-236.91 do Trần V đứng tên sở hữu Trần V, có giấy tờ hợp lệ và 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 số 750131010617 do Sở giao thông vận tải tỉnh Đồng Nai cấp ngày 05/9/2013 của Trần V trả lại cho bị cáo Trần V là phù hợp.

- Đối với 01 (một) đĩa DVD có chứa hình ảnh dữ liệu điện tử, video liên quan đến vụ tai nạn giao thông ngày 26/02/2018 tịch thu lưu hồ sơ.

- Tại phiên tòa, các đương sự không yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét.

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về án phí: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần V, phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ vào các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt: Bị cáo Trần V 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm từ ngày tuyên án sơ thẩm (17/7/2018).

Giao bị cáo Trần V cho UBND phường C, thị xã C, tỉnh Đồng Nai quản lý, giáo dục.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Trả lại cho bị cáo Trần V 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 số 750131010617 do Sở giao thông vận tải tỉnh Đồng Nai cấp ngày 05/9/2013 của Trần Vĩ;

Tịch thu lưu hồ sơ 01 (một) đĩa DVD có chứa hình ảnh dữ liệu điện tử, video liên quan đến vụ tai nạn giao thông ngày 26/02/2018.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về Án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc Bị cáo Trần V phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ