vanban.org

Bản án 76/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 30/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trọng M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!!
HUYỆN!HÀ!TRUNG!
TỈNH!THANH!HOÁ!
!!
B¶n!¸n!sè:!76/2018/HS!-ST!
!
Ngµy:!30-11-2018!
!
!
!
!
!
!
!

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

!

!

TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!HÀ!TRUNG,!TỈNH!THANH!HOÁ!

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán-"Chủ"toạ"phiên"toà: Ông Lê Văn Hồng

Các"Hội"thẩm"nhân"dân:

1. Ông Lê Văn Ký

2. Ông Tống Văn Tuyên

- Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thanh Hương – Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Hòa - Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 11 năm 2018 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 71/2018/TLST-HS ngày 12/11/2018 đối với bị cáo:

Nguyễn!Trọng!M; sinh năm 1981; tại xã TL, huyện HL, tỉnh Thanh Hoá; trú tại: thôn 5, xã TL, huyện HL, tỉnh Thanh Hoá; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng T và bà Phạm Thị T; vợ là Nguyễn Thị V và có 3 con; tiền án, tiền sự: không.

Tạm giữ: Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/8/2018 đến ngày 29/8/2018.

Tạm giam: Bị cáo tạm giam từ ngày 29/8/2018 đến ngày 25/10/2018 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên toà.

Người"có"quyền"lợi,"nghĩa"vụ"liên"quan: chị Nguyễn Thị V; sinh năm: 1983; nơi cư trú: thôn 5, xã TL, huyện HL, tỉnh Thanh Hóa, có mặt.

Người"làm"chứng: anh Doãn Minh H; sinh năm: 1989; nơi cư trú: tiểu khu 4, thị trấn HT, huyện HT, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN!

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 20 phút, ngày 23/8/2018, Tổ công tác Công an huyện Hà Trung phối hợp với Công an thị trấn Hà Trung, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, trong khi làm nhiệm vụ tại địa bàn tiểu khu 3, thị trấn Hà Trung phát hiện Nguyễn Trọng M, sinh năm 1981 ở thôn 5, xã TL, huyện HL đang điều khiển xe môtô biển kiểm soát 36B1-09117. Thấy có biểu hiện nghiện ma túy, tổ công tác kiểm tra, phát hiện và thu giữ ở túi quần bên trái của M đang mặc một gói nhỏ bọc bên ngoài bằng nilon, bên trong có chứa mười viên nén hình tròn, màu hồng nghi là ma túy tổng hợp. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong vật chứng và đưa M cùng tang vật về Công an thị trấn Hà Trung lập biên bản.

Vật chứng thu giữ gồm: Một gói nhỏ bên ngoài bọc bằng nilong, bên trong có chứa 10 viên nén hình tròn màu hồng nghi là ma túy tổng hợp; Một xe môtô biển kiểm soát 36B1- 091.17.

Tại Bản kết luận giám định số 1772/MT-PC09 ngày 27/8/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, kết luận: Mười viên nén hình tròn màu hồng của phong bì niêm phong có ký hiệu “Vụ Nguyễn Trọng M” gửi giám định là ma túy, có tổng trọng lượng (khối lượng) 1,019g (một phẩy không một chín gam) loại: Methamphetamine.

Quá trình điều tra Nguyễn Trọng M khai nhận: Khoảng 19 giờ, ngày 23/8/2018, Nguyễn Trọng M đi xe môtô biển kiểm soát 36B1-091.17 từ nhà ở thôn 5, xã TL, huyện HL, tỉnh Thanh Hóa sang huyện Hà Trung mua ma túy để sử dụng. Khi đi đến Nhà máy thuốc lá, M rẽ vào đường bên cạnh nhà máy rồi đi qua ngã ba thôn TQ, xã HP khoảng 50m thì gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi đứng bên trong một ngõ có cổng sắt, M hỏi người đàn ông “có hồng không” (ý M hỏi mua ma túy), người đàn ông hiểu ý trả lời “lấy bao nhiêu”, M bảo “lấy một triệu” rồi đưa tiền cho người đàn ông này. Cầm tiền xong, người đàn ông đưa cho M một gói nhỏ bọc bên ngoài bằng nilon, bên trong có chứa 10 viên nén màu hồng. M cầm lấy và bỏ vào túi quần bên trái đang mặc, sau đó quay xe trở về theo đường cũ. Khi M đi đến đoạn đường bên cạnh Nhà máy thuốc lá thì bị lực lượng Công an yêu cầu dừng xe kiểm tra. Công an thu giữ trong túi quần bên trái M đang mặc một gói nhỏ bên trong có chứa 10 viên nén hình tròn màu hồng, M khai đó là ma túy đá M vừa mua được để sử dụng. Công an kiểm tra người M và xe máy nhưng không phát hiện, thu giữ gì thêm. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong túi nghi là ma túy đá nêu trên rồi đưa M cùng tang vật về Công an thị trấn Hà Trung lập biên bản.

Cáo trạng số 76/CT-VKS ngày 12/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng đã truy tố. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249; Điều 38; điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 21 tháng tù.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo không có khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng với trình tự, thủ tục, thẩm quyền và hợp pháp theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2]. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo ở giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với vật chứng thu giữ được và bản kết luận giám định đủ cơ sở khẳng định: Ngày 23/8/2018, Nguyễn Trọng M đã có hành vi tàng trữ một gói ma túy bên trong có mười viên nén hình tròn, màu hồng, khối lượng 1,019gam, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng trái phép. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Đây là loại chất gây nghiện có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ con người, là một trong những nguyên nhân chính gây ra các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội trong một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được hưởng tình tiết giám nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo theo điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Trong vụ án này, bị cáo khai đã mua ma túy của một người đàn ông, do bị cáo không biết tên, tuổi và địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.

[3]. Về"vật"chứng: Số ma túy cơ quan điều tra thu giữ được còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên phải tịch thu tiêu huỷ. Chiếc xe môtô biển kiểm soát 36B1-091.17 M dùng làm phương tiện đi mua ma túy để sử dụng là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của chị Nguyễn Thị V nên cơ quan điều tra đã trả lại cho chị V là phù hợp.

[4]. Về"án"phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH!

Căn cứ điểm c, khoản 1, Điều 249; Điều 38; điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

1. Về tội danh: Bị cáo Nguyễn! Trọng!M! phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng M 18 (mười"tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án và được trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam (từ ngày 23/8/2018 đến ngày 25/10/2018).

3. Về vật chứng: Căn cứ khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ: Toàn bộ số Methamphetamine còn lại sau giám định, được đựng trong phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, được dán kín, niêm phong (Đặc điểm của phong bì niêm phong theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Trung và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hà Trung ngày 26/11/2018).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2, Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 6, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Nguyễn Trọng M phải chịu 200.000đ (Hai"trăm"nghìn"đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Nguyễn Thị V có quyền kháng cáo bản án phần liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ