- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Tien Đ - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến Đ phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Nghị quyết số 144/2016/QH13 Về lùi hiệu lực thi hành của Bộ…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 76/2018/HS-PT Ngày 27 tháng 11 năm 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Sơn.
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Thúy Mai và ông Trần Văn Thái.
- Thư ký phiên toà: Ông Lương Văn Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Văn - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2018, tại Trụ sở Tòa nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 106/2018/TLPT-HS ngày 31 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn Tiến Đ do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện LT đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 55/2018/HSST ngày 28 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc.
Bị cáo bị kháng nghị:
Họ và tên: Nguyễn Tiến Đ, sinh năm 1992 tại xã HL, huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn BR, xã HL, huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Tr1, sinh năm 1964 và con bà Nguyễn Thị V1, sinh năm 1967; có vợ là Lương Thị Diệu L1, sinh năm 1997 (đã ly hôn); con: chưa có; tiền sự: Không; tiền án: có 01 tiền án. Tại Bản án số 93/2015/HSST ngày 19/11/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt bị cáo 01 năm tù về tội “Đánh bạc”. Đến ngày 06/01/2017, bị cáo chấp hành xong án phạt tù, đến nay chưa được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10/7/2018 đến ngày 13/7/2018 được thay đổi biện pháp ngăn chặn, hiện tại ngoại tại địa phương (có mặt).
Ngoài ra trong vụ án còn có bị cáo khác, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, kháng nghị Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dụng vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12h00" ngày 10/7/2018, Lê Trung K đến chơi tại quán bi-a Đ của anh Đỗ Văn Đ2, sinh năm 1988 ở thôn YT, xã BB, huyện LT. Một lúc sau, Nguyễn Tiến Đ cũng đến quán chơi. Tại đây Đ rủ thì được K đồng ý đánh bạc bằng hình thức chơi bi-a ăn tiền và hỏi thuê của anh Đ2 01 bàn bi-a với giá 20.000 đ/1 tiếng để đánh bạc. Sau đó anh Đ2 đi giải quyết việc gia đình tại xã NM. Trước khi chơi bi-a ăn tiền, K lấy ra 2.550.000 đ, Đ lấy ra 2.500.000 đ rồi để vào 2 lỗ góc tại bàn bi-a. Nguyễn Tiến Đ và Lê Trung K thống nhất đánh bi-a ăn tiền dưới hình thức bạch thủ bi số 15, tức là dùng gậy bi-a đánh viên bi cái (bi không số màu trắng) chạm vào bi số 15 và các bi còn lại trên mặt bàn. Nếu đánh viên bi số 15 xuống lỗ 10 (2 lỗ giữa bàn bi-a) thì được 150.000 đ, đánh xuống lỗ góc (4 lỗ ở góc bàn bi a) thì được 100.000 đ. Các bi còn lại từ bi số 1 đến số 14 xuống lỗ 10 thì được 50.000 đ. Nguyễn Tiến Đ và Lê Trung K cùng nhau đánh bi-a ăn tiền đến khoảng 13h30" cùng ngày thì bị tổ công tác Công an huyện LT phát hiện bắt quả tang. Vật chứng thu giữ gồm: 01 bàn bi a nhãn hiệu AILEEX, 02 gậy dùng để đánh bi a, 16 viên bi trong đó có 01 viên bi không số và 15 viên bi được đánh số từ 1 đến 15; thu giữ tại 02 góc bàn bi a tổng số tiền 5.050.000đ.
Quá trình điều tra xác định tổng số tiền dùng vào việc thực hiện tội phạm là 5.050.000đ, trong đó bị cáo Lê Trung K sử dụng 2.550.000đ, bị cáo Nguyễn Tiến Đ sử dụng 2.500.000đ vào việc thực hiện tội phạm.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 55/2018/HSST ngày 28 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện LT đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến Đ phạm tội “Đánh bạc”; áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, điển h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Đ 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giam từ ngày 10/7/2018 đến ngày 13/7/2018.
Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn xử phạt đối với bị cáo khác, quyết định về áp dụng hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và tuyên quyền kháng cáo cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 10 tháng 10 năm 2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện LT có Quyết định kháng nghị Phúc thẩm số 524/QĐ-VKS với nội dung đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc sửa bản án sơ thẩm và áp dụng điểm d khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Tiến Đ.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 355; điểm a khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 55/2018/HS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện LTh về áp dụng điều luật và tăng hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hình thức: Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện LT trong thời hạn luật định, hợp lệ được Hội đồng xét xử xem xét.
Về nội dung: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Tiến Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của đồng phạm khác trong vụ án đã bị Tòa án đưa ra xét xử về thời gian, địa điểm, hình thức thực hiện tội phạm cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Trong khoảng thời gian từ 12 giờ 00 phút đến 13 giờ 30 phút, ngày 10 tháng 7 năm 2018, bị cáo Nguyễn Tiến Đ và đồng phạm khác thực hiện hành vi đánh bạc ăn tiền dưới hình thức chơi “bi a” tại nhà anh Đỗ Văn Đ2 ở thôn YT, xã BB, huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc thì bị phát hiện, bắt giữ. Quá trình điều tra xác định tổng số tiền bị cáo Nguyễn Tiến Đ và đồng phạm sử dụng vào việc thực hiện tội phạm là 5.050.000đ. Trong đó bị cáo Nguyễn Tiến Đ sử dụng 2.500.000đ vào việc thực hiện tội phạm.
Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa và những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Tiến Đạt về tội “Đánh bạc” theo Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội đúng pháp luật không oan sai.
Về tính chất của vụ án là tội phạm ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự an toàn công cộng được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy cần xử lý nghiêm nhằm mục đích giáo dục riêng, phòng ngừa chung, phục vụ tốt nhiệm vụ giữ vững an ninh trật tự tại địa phương và làm gương cho người khác.
Xét về kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện LT, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Căn cứ vào Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015; Nghị quyết 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016; Nghị quyết số 41/2017/QH14 về hướng dẫn thi hành khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 về việc thực hiện các quy định của Bộ luật Hình sự có lợi cho người phạm tội. Tại khoản 3 điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định:
"3. Điều luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới….loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích và quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành”.
Bản án hình sự sơ thẩm số 136/2013/HS-ST ngày 19/12/2013 của Tòa án nhân dân huyện SD, tỉnh Tuyên Quang xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Đ 03 tháng 18 ngày tù về tội: “Đánh bạc”, quy mô 2.620.000đ tại thời điểm Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành thì hành vi trên của Nguyễn Tiến Đ chưa cấu thành tội phạm. Thực hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước về việc áp dụng những quy định có lợi cho người phạm tội được quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 và những văn bản hướng dẫn thi hành thì bản án của Tòa án nhân dân huyện SD, tỉnh Tuyên Quang xét xử đối với Nguyễn Tiến Đ không coi là có án tích. Do vậy Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện LT áp dụng quy định tại Khoản 2 Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, xét xử bị cáo Nguyễn Tiến Đ theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 khác với khoản mà Viện kiểm sát nhân dân huyện LT truy tố là phù hợp quy định của pháp luật.
Do vậy Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 524/QĐ-VKS ngày 10 tháng 10 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện về áp dụng điều điểm d khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Tiến Đ không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Tiến Đ không phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện LT, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 55/2018/HSST ngày 28 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện LT.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến Đ phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội "Đánh bạc", thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 10/7/2018 đến ngày 13/7/2018.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo Nguyễn Tiến Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - Tòa án nhân dân huyện LT; - Viện kiểm sát nhân dân huyện LT; - Công an huyện LT; - Thi hành án huyện LT; - Bị cáo; - Lưu: Phòng HC-TP, HSVA, Tòa HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Duy Sơn |