- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huynh Huu T "Vi phạm...GTĐB" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; chấp nhận kháng cáo của bị cáo sửa Bản án sơ thẩm số: 27/2018/HSST ngày 10-8-2018 của Tòa án nhân dân huyện TP , tỉnh Bến Tre.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 76/2018/HS-PT Ngày: 22-11-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tỉnh
Các Thẩm phán: Ông Phạm Kim Của
Ông Nguyễn Kim Tư
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Yến Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Hoàng Phúc - Kiểm sát viên
Ngày 22 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 62/2018/HSPT ngày 21 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo Huỳnh Hửu T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 27/2018/HSST ngày 10 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện TP , tỉnh Bến Tre.
- Bị cáo có kháng cáo: Huỳnh Hửu T, sinh năm 1993 tại tỉnh Bến Tre. Nơi cư trú: số 61/6 khu phố 4, thị trấn TP , huyện TP , tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới T : Nam; tôn giáo: Đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn T và bà Phan Thị H; bị cáo chưa có vợ; tiền án: Không , tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt;
- Người làm chứng: Dương Văn B , sinh năm 1971, cư trú số 133/6, ấp Thạnh Khương A, xã MH, huyện TP . Có mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ ngày 15/02/2018, sau khi dự tiệc và uống bia cùng bạn bè Huỳnh Hửu T điều khiển xe môtô nhãn hiệu YAMAHA, số loại EXCITER, dung tích xi lanh 149,8cm3, biển số đăng ký 71C3-214.36 lưu thông trên Quốc lộ 57 theo hướng từ thị trấn TP đi thành phố Bến Tre. Khi đến Km76+150m, thuộc ấp Thạnh Khương A, xã MH, huyện TP , tỉnh Bến Tre, do thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tay lái nên T đã điều khiển xe mô tô nêu trên đụng vào người của ông Hồ Văn Nh đang đi bộ cùng chiều trên phần đường bên phải theo hướng lưu thông của xe môtô. Hậu quả làm ông Nh bị ngã xuống đường và tử vong do chấn thương sọ não.
Qua quá trình điều tra đã xác định được như sau:
Kết quả kiểm tra nồng độ cồn do Đội Cảnh sát giao thông - trật tự - cơ động Công an huyện TP thực hiện lúc 18 giờ 35 phút ngày 15/02/2018 đối với Huỳnh Hửu T xác định: nồng độ cồn trong hơi thở là 0,571mg/l (vượt quá mức quy định tại khoản 8 Điều 8 Luật giao thông đường bộ năm 2008: “Điều khiển xe môtô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở”.
Hiện trường của vụ tai nạn giao thông là một đoạn đường thẳng, không nằm trong phạm vi tác dụng của biển báo hiệu đường bộ, Km76+150m Quốc lộ 57 thuộc ấp Thạnh Khương A, xã MH, huyện TP , tỉnh Bến Tre. Mặt đường được trải nhựa bằng phẳng, rộng 06m. Trên mặt đường có vạch kẻ đường (vạch đứt quãng màu trắng) kẻ dọc theo tim đường để phân chia đường thành hai chiều. Lấy mép đường bên trái hướng từ thị trấn TP đi Ủy ban nhân dân xã Quới Điền làm lề chuẩn (làn đường bên trái, rộng 3,1m) và lấy trụ điện số 105 bên lề phải làm điểm mốc. Tiến hành đo đạc vị trí phương tiện và các dấu vết tại hiện trường, ghi nhận kết quả như sau:
- Vết cày số 1: Dạng cong, dứt quãng, có nhiều vết trượt xước li ti. Đầu vết cày số 1 cách lề chuẩn 3,25m, cách trụ điện số 105 là 16,6m. Cuối vết cày số 1, cách lề chuẩn là 0,2m. Vết cày số 1 dài 25,4m, nơi rộng nhất là 0,1m.
- Về cày số 2: Dạng thẳng, liền nét, hình thành theo hướng từ thị trấn TP đi Ủy ban nhân dân xã Quới Điền. Đầu vết cày số 2 cách lề chuẩn 2,95, cách tâm vùng chất lỏng màu nâu đỏ (nghi máu) 5,25m. Cuối vết cày số 2 cách lề chuẩn là 2,9m. Vết cày số 2 dài 0,5m, nơi rộng nhất là 0,01m.
- Vùng chất lỏng màu nâu đỏ (nghi máu): Dạng loang, không xác định được hình dạng, có kích thước 1,5m x 1,35m. tâm vùng chất lỏng màu nâu đỏ cách lề chuẩn 5,4m, cách đầu vết cày số 1 là 5,75m.
- Xe môtô hai bánh biển số 71C3-214.36: ngã nghiêng bên trái, phần đầu xe hướng về Ủy ban nhân dân xã Quới Điền, phần đuôi xe hướng về thị trấn TP . Trục trước xe môtô biển số 71C3-214.36 cách lề chuẩn 0,2m, trục sau cách lề chuẩn 0,2m và cách cuối vết cày số 1 là 0,6m. (Theo thể hiện của Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông ngày 15/02/2018).
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 23/TT ngày 23/02/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre kết luận nạn nhân Hồ Văn Nh chết do chấn thương sọ não gây vỡ xương hộp sọ dập tiểu não, xuất huyết, tụ máu nội sọ.
Vật chứng của vụ án: 01 xe môtô hai bánh, biển số đăng ký 71C3-214.36, số máy G3D4E229576, số khung 0610GY216670, nhãn hiệu YAMAHA, màu sơn: Xanh, loại xe EXCITER, dung tích xi lanh 149,8m3; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô và 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số AU142012 mang tên Huỳnh Hửu T.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2018/HS-ST ngày 10-8-2018 của Tòa án nhân dân huyện TP , đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Hửu T phạm “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38; Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Huỳnh Hửu T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù T từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự; xử lý vật chứng; án phí; quyền và thời hạn kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 22/8/2018 bị cáo Huỳnh Hửu T kháng cáo yêu cầu được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo khai nhận hành vi phù hợp với nội dung Bản án sơ thẩm, bị cáo không thay đổi yêu cầu kháng cáo.
Người làm chứng (ông Bá) khai và xác định không thấy xe đụng vào người ông Nh mà chỉ nghe bị đụng nên nhìn ra thấy, xe không có kéo nạn nhân đi.
Quan điểm của Kiểm sát viên giải quyết vụ án thể hiện như sau: Kiểm sát viên cho rằng kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38; Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Huỳnh Hửu T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù là có cơ sở. Xét thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38; của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Huỳnh Hửu T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Lời nói sau cùng của bị cáo cho rằng gia đình khó khăn, yêu cầu được hưởng án treo để đi làm phụ giúp gia đình trả nợ do đã vay để bồi thường.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 15/02/2018, Huỳnh Hửu T có giấy phép lái xe theo quy định. Sau khi dự tiệc và đã có uống bia T đã điều khiển xe môtô biển số đăng ký 71C3-214.36 lưu thông trên Quốc lộ 57 theo hướng từ thị trấn TP đi thành phố Bến Tre, khi đến Km76+150m, thuộc ấp Thạnh Khương A, xã MH, huyện TP , tỉnh Bến Tre, do thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tay lái nên T để xe đụng vào người của ông Hồ Văn Nh . Bị cáo thừa nhận việc thực nghiệm điều tra là đúng như khi xảy tai nạn. Mặt khác qua hình ảnh và Biên bản khám nghiệm tử thi thể hiện, chân phải của ông Nh ở mặt sau đầu trên cẳng chân bị xây sát da bầm tụ máu dài 5,5 cm, rộng 04cm, cách gót chân 39cm; mặt trước trong cẳng chân có vết thương nham nhỡ dài 01cm, rộng 0,4cm, cách gót chân 13cm, gãy hở hai xương cẳng chân. Tại phiên tòa phúc thẩm ông B khai không trực tiếp thấy xe đụng vào ông Nh. Như vậy, có cơ sở chứng minh bị hại đang đi dọc theo lộ cùng chiều lưu thông với bị cáo nên xe mô tô bị cáo điều khiển chạy đến đụng vào người ông Nh là có cơ sở. Hậu quả làm ông Nh bị ngã xuống đường và tử vong do chấn thương sọ não. Nồng độ cồn trong hơi thở của bị cáo đo được là 0,571mg/lít khí thở, vượt hơn so với khoản 8 Điều 8 Luật giao thông đường bộ quy định là vượt quá 0,25 miligam/ lít khí thở. Với ý thức hành vi và hậu quả do bị cáo đã gây ra, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử và tuyên bố bị cáo Huỳnh Hửu T phạm “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho gia đình của bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có hai người cậu tham gia cách mạng được tặng giấy khen. Tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp đơn xác nhận hoàn cảnh khó khăn: bị cáo phải nuôi cha mẹ, bà nội và hai em nhỏ, bị cáo là lao động chính trong gia đình; người đại diện hợp pháp của bị hại (bà Nguyễn Thị Ngọc Hương và gia đình) tiếp tục có đơn yêu cầu cho bị cáo hưởng án treo, bị cáo cung cấp thêm hợp đồng lao động giữa bị cáo và Công ty Cổ phần tư vấn thiết kế dầu khí DELTA thể hiện bị cáo đang có việc làm. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, gia cảnh khó khăn. Với mức hình phạt tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo không cần cách ly bị cáo khỏi xã hội mà ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo cũng đủ cải tạo giáo dục bị cáo. Do vậy, chấp nhận kháng cáo của bị cáo sửa bản án sơ thẩm.
Quan điểm của Kiểm sát viên không phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hửu T không phải chịu án phí phúc thẩm, do kháng cáo được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; chấp nhận kháng cáo của bị cáo sửa Bản án sơ thẩm số: 27/2018/HSST ngày 10-8-2018 của Tòa án nhân dân huyện TP , tỉnh Bến Tre.
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Hửu T phạm “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Hửu T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm, T từ ngày tuyên án phúc thẩm ngày 22/11/2018.
Giao bị cáo Huỳnh Hữu T về cho Ủy ban nhân dân thị trấn TP , huyện TP , tỉnh Bến Tre, gia đình của bị cáo phối hợp giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[2] Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Bị cáo Huỳnh Hửu T không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng, án phí không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bến Tre (1b); - Vụ GĐKT I TANDTC (1b); - Phòng hồ sơ - CA tỉnh Bến Tre (1b); - Sở Tư Pháp tỉnh Bến Tre (1b); - TAND huyện TP (3b); - VKSND huyện TP (1b); - Công an huyện TP (1b); - UBND thị trấn TP (1b); - Bị cáo tại ngoại (1b); - Chi cục THADS huyện TP (1b); - Tòa Hình sự, Phòng KTNV&THA, Văn Phòng Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre (6b); - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Tỉnh |