vanban.org

Bản án 76/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Thị N đƣợc ly hôn với ông Nguyễn Duy T.

Về con chung: Buộc ông Nguyễn Duy T giao con chung là cháu Nguyễn Duy T, sinh ngày 17/5/2009 cho bà Vũ Thị N trực tiếp nuôi dƣỡng. Đối với con chung là cháu Nguyễn Duy K, sinh ngày 17/10/1995 đ trƣởng thành hông em ét giải quyết. Sau hi ly hôn, ông Nguyễn Duy T và bà Vũ Thị N có quyền thăm nom, chăm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Vũ Thị N yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Duy T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Thị N đƣợc ly hôn với ông Nguyễn Duy T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 76/2018/HNGĐ-ST
Ngày 09-7-2018
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Minh Châu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Diễm;

2. Ông Nguyễn Chí Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh - Thƣ T a án nhân dân thị

Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương: Ông Phan Văn Tuân - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Ngày 09 tháng 7 năm 2018, tại T a án nhân dân thị Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng ét ử sơ thẩm công hai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ l số: 539/2018/TLST-HNGĐ ngày 29/5/2018 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đƣa vụ án ra ét ử số: 86/2018/QĐXXST-HN ngày 21/6/2018, giữa các đƣơng sự:

1. Nguyên đơn: Bà Vũ Thị N, sinh năm 1973;

Thƣờng trú: 34/3 hu phố B, phƣờng A, thị D, tỉnh Bình Dƣơng;

Tạm trú: 180/9 Khu phố 3, phƣờng T, thị B, tỉnh Bình Dƣơng, có mặt.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Duy T, sinh năm 1968;

Thƣờng trú: 34/3 hu phố B, phƣờng A, thị D, tỉnh Bình Dƣơng. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thị Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 17/5/2018, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn bà Vũ Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Sau một thời gian tìm hiểu, bà Vũ Thị N và ông Nguyễn Duy T tiến tới hôn nhân và đăng

ết hôn tại Ủy ban nhân dân T, huyện Q, tỉnh Thái Bình, theo giấy chứng nhận ết hôn số 38, ngày 25/8/1994, việc ết hôn là hoàn toàn tự nguyện, đƣợc hai bên gia đình đồng và có tổ chức lễ cƣới.

Sau khi chung sống và ết hôn vợ chồng sống chung với gia đình nhà chồng tại

T, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Đến năm 2001 vợ chồng vào sinh sống và làm việc tại phƣờng A, thị D, tỉnh Bình Dƣơng. Vợ chồng sống hạnh phúc đến đầu năm 2010 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do ông T nghiện ma túy, bà N và gia đình đ nhiều lần huyên nhủ ông T, đ đƣa ông T đi cai nghiện nhƣng sau đó thì ông T lại tái nghiện. Hiện nay ông T đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thị D, tỉnh Bình Dƣơng để điều tra về hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến ma túy. Nay bà Vũ Thị N ác định tình cảm vợ chồng hông c n, mục đích hôn nhân hông đạt đƣợc nên yêu cầu đƣợc ly hôn với ông Nguyễn Duy T.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung, hi ly hôn bà Vũ Thị N yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Duy T, sinh ngày 17/5/2009, hông yêu cầu ông Nguyễn Duy T phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con. Đối với cháu Nguyễn Duy K, sinh ngày 17/10/1995 đ trƣởng thành hông yêu cầu T a án giải quyết.

Về tài sản chung: Không yêu cầu T a án giải quyết.

Về quyền và nghĩa vụ tài sản chung: Không yêu cầu T a án giải quyết.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 07/6/2018 bị đơn ông Nguyễn Duy T trình bày:

Về hôn nhân: Ông Nguyễn Duy T thống nhất với phần trình bày của bà Vũ Thị N thời gian tìm hiểu, thời gian đăng

ết hôn và quá trình chung sống, quan hệ vợ chồng. Vợ chồng sống hạnh phúc đƣợc đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông T bị bạn bè rủ rê dẫn đến nghiện ngập, bà N và gia đình đ đƣa ông T đi cai nghiện nhƣng vẫn hông thành, hiện nay ông T đang bị bắt tạm giam để điều tra về tội mua bán trái phép chất ma túy. Ông T biết bản thân có lỗi với bà N và các con. Ông T thừa nhận vợ chồng có những mâu thuẫn nhƣ trên, nhƣng ông T ác định vẫn c n yêu thƣơng vợ và hông muốn các con phải sống a cha mẹ, nên trƣớc yêu cầu ly hôn của bà N, ông T hông đồng , ông T mong muốn bà N cho ông một cơ hội để sửa đổi bản thân.

Về con chung: Ông Nguyễn Duy T thống nhất vợ chồng có 02 con chung nhƣ bà Vũ Thị N trình bày. Ông T hông đồng ly hôn nên hông yêu cầu T a án giải quyết về con chung. Trƣờng hợp T a án giải quyết cho bà N ly hôn với ông T thì ông cũng đồng để cho bà N đƣợc trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Duy T, sinh ngày 17/5/2009, ông T hông phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con. Đối với con chung tên Nguyễn Duy K, sinh ngày 17/10/1995, đ trƣởng thành hông yêu cầu T a án giải quyết.

Về tài sản chung: Không yêu cầu T a án giải quyết.

Về quyền và nghĩa vụ tài sản chung: Không yêu cầu T a án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ hi thụ l cho đến tại phiên t a, T a án và các đƣơng sự chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Bị đơn có yêu cầu ét ử vắng mặt căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, T a án tiến hành ét ử vắng mặt bị đơn là đúng quy định. Về nội dung vụ án: Yêu cầu hởi iện của nguyên đơn có căn cứ, đề nghị Hội đồng ét ử em ét, quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau hi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên t a, iến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên t a, T a án nhận định:

[1] Về điều iện thụ l vụ án: Căn cứ vào đơn hởi iện của bà Vũ Thị N thì đây là vụ án tranh chấp ly hôn, nuôi con quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn ông Nguyễn Duy T có địa chỉ thƣờng trú tại phƣờng A, thị D, tỉnh Bình Dƣơng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của T a án nhân dân thị Dĩ An theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về sự vắng mặt của các đƣơng sự: Bị đơn ông Nguyễn Duy T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt vào ngày 06/6/2018. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, T a án ét ử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Thị N và ông Nguyễn Duy T là vợ chồng có đăng

ết hôn tại Ủy ban nhân dân T, huyện Q, tỉnh Thái Bình, theo giấy chứng nhận ết hôn số 38 ngày 25/8/1994, là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Mục đích của hôn nhân là nhằm ây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt đƣợc mục đích đó, vợ chồng phải tin tƣởng, thƣơng yêu, qu trọng, chung thủy, và tạo điều iện cho nhau phát triển về mọi mặt. Xét thấy, quan hệ vợ chồng giữa bà N và ông T đ ảy ra nhiều mâu thuẫn dẫn đến vợ chồng hông hạnh phúc, nguyên nhân là do ông T là ngƣời nghiện ma túy, hông lo làm ăn chăm lo cho gia đình, để có tiền thỏa m n cho nghiện ngập của bản thân ông T đ có hành vi vi phạm pháp luật. Bản thân ông T nhận thức đƣợc mâu thuẫn vợ chồng uất phát từ bản thân ông, lẽ ra bản thân ông phải lo làm ăn để ổn định inh tế, ây dựng gia đình đầm ấm nhƣng ngƣợc lại ông lại sa vào nghiện ngập, đi cai nghiện rồi lại tái nghiện, đẩy cuộc sống gia đình và mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn. Hội đồng ét ử nhận thấy mặc dù ông T hông đồng ly hôn nhƣng bản thân ông cũng hông đƣa hông đƣa ra đƣợc phƣơng án để hắc phục mâu thuẫn vợ chồng, điều này chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa bà N và ông T đ trầm trọng hông thể hắc phục đƣợc. Vì vậy, bà N yêu cầu ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định của Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.

Về con chung: Giữa bà Vũ Thị N và ông Nguyễn Duy T có hai con chung Nguyễn Duy K, sinh ngày 17/10/1995 và Nguyễn Duy T, sinh ngày 17/5/2009, bà N yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung tên Nguyễn Duy T, sinh ngày 17/5/2009. Tuy nhiên, việc giao con cho ai trực tiếp nuôi dƣỡng cần phải em ét về mọi mặt và đảm bảo quyền lợi của con chƣa thành niên. Xét cháu T c n nhỏ từ trƣớc đến nay bà N là ngƣời trực tiếp chăm sóc nuôi dƣỡng. Đồng thời ông T cũng đồng giao cháu T cho bà N trực tiếp nuôi dƣỡng. Do vậy, việc giao con chung chƣa thành nhiên là cháu Nguyễn Duy T, sinh ngày 17/5/2009 cho bà N trực tiếp nuôi dƣỡng sẽ bảo đảm quyền lợi của phụ nữ, trẻ em hi vợ chồng ly hôn và đảm bảo tiếp tục duy trì cuộc sống bình thƣờng về mọi mặt của cháu là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Đối với con chung tên Nguyễn Duy K, sinh ngày 17/10/1995, đ trƣởng thành nên hông em ét giải quyết.

Về cấp dƣỡng nuôi con: Bà Vũ Thị N hông yêu cầu ông Nguyễn Duy T phải có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con. Xét đây là sự tự nguyện của bà N nên Hội đồng ét ử ghi nhận.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự hông yêu T a án án giải quyết.

Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu hởi iện về tranh chấp ly hôn, nuôi con của bà Vũ Thị N với ông Nguyễn Duy T.

Lời đề nghị của vị đại diện Viện iểm sát nhân dân thị Dĩ An là phù hợp nhƣ những phân tích nêu trên.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Vũ Thị N chịu án phí ly hôn theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2014 và Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí T a án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí T a án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Thị N đƣợc ly hôn với ông Nguyễn Duy T.

2. Về con chung: Buộc ông Nguyễn Duy T giao con chung là cháu Nguyễn Duy T, sinh ngày 17/5/2009 cho bà Vũ Thị N trực tiếp nuôi dƣỡng. Đối với con chung là cháu Nguyễn Duy K, sinh ngày 17/10/1995 đ trƣởng thành hông em ét giải quyết.

Sau hi ly hôn, ông Nguyễn Duy T và bà Vũ Thị N có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con, hông ai có quyền cản trở bà N và ông T thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, T a án có thể quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dƣỡng.

3. Về nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Vũ Thị N về việc hông yêu cầu ông Nguyễn Duy T phải có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con.

4. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự hông yêu cầu nên T a án hông em ét, giải quyết.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Vũ Thị N phải chịu 300.000đồng ba trăm nghìn đồng án phí ly hôn, đƣợc hấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đ nộp theo biên lai số 0019472 ngày 25/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

6. Nguyên đơn bà Vũ Thị N đƣợc quyền háng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày ể từ ngày tuyên án. Bị đơn ông Nguyễn Duy T vắng mặt đƣợc quyền háng cáo bản án trong hạn 15 ngày, ể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.

Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ