vanban.org

Bản án 76/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên Tuyên án 18/10/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Hồ Thị Thanh Sương tại đơn khởi kiện ngày 10/7/2014, buộc bị đơn ông Lê Văn Lập trả cho nguyên đơn Hồ Thị Thanh Sương số tiền 17.

[2]Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (tức ngày 19/10/2018), nếu bị đơn chưa thanh toán xong số tiền nói trên thì phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán. [3]… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? [1]Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Hồ Thị Thanh Sương tại đơn khởi kiện ngày 10/7/2014, buộc bị đơn ông Lê Văn Lập trả cho nguyên đơn Hồ Thị Thanh Sương số tiền 17.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TUY HÒA
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2018/DS– ST
Ngày: 18/10/2018
V/v“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HOÀ, TỈNH PHÚ YÊN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Ngọc Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hà Trọng Khá;

2. Bà Đào Thị Ngâm;

- Thư ký phiên toà: Bà Mai Lê Trúc Uyên – Thư ký Toà án.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hưng – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tuy Hoà, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 179/2016/TLST – DS ngày 27/10/2016 về “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 157/2018/QĐXXST – DS ngày 05/10/2018 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Thanh Sương – sinh năm 1964; Trú tại: 27 Trần Hưng Đạo, phường 1, thành phố Tuy Hòa, Phú Yên. Có yêu cầu xử vắng mặt.

2.Bị đơn: Ông Lê Văn Lập; Trú tại: 30/6 Lê Thánh Tôn, phường 1, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

-Theo đơn khởi kiện ngày 10/7/2014, nguyên đơn bà Hồ Thị Thanh Sương yêu cầu ông Lê Văn Lập trả nợ vay gốc số tiền 11.000.000đ, lãi 1,125%/tháng từ ngày vay cho đến ngày trả nợ cuối cùng theo Giấy mượn tiền ngày 11/02/2014.

-Bị đơn ông Lê Văn Lập vắng mặt không có lời trình bày.

Tại phiên tòa:

-Nguyên đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt không có lời trình bày;

-Bị đơn vắng mặt không có lời trình bày.

-Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Đối với nguyên đơn bà Hồ Thị Thanh Sương có yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn không tuân thủ quy định của BLTTDS nên phải chịu hậu quả pháp lý.

+ Về nội dung vụ án: áp dụng các Điều 471, 474, 476 BLDS 2005, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả nợ gốc cho nguyên đơn 11.000.000đ (giấy vay ngày 11/02/2014), lãi theo quy định của pháp luật. Về án phí: Bị đơn chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ về khoản vay tài sản, đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự qui định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Tuy Hoà theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Lê Văn Lập đã được Tòa triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, nguyên đơn bà Hồ Thị Thanh Sương yêu cầu giải quyết vắng mặt, căn cứ các Điều 227, 228, Điều 238 của BLTDS, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.

Về nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về nợ gốc: Theo Giấy mượn tiền ngày 11/02/2014, ông Lê Văn Lập vay của bà Hồ Thị Thanh Sương số tiền 11.000.000 đồng, lãi 2%/tháng, đây là khoản vay không kỳ hạn và có lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 477 BLDS 2005; Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, không cung cấp chứng cứ chứng minh đã trả nợ cho bà Sương, do đó, yêu cầu của bà Sương là có căn cứ chấp nhận, hợp đồng vay giữa các đương sự được xác lập và thực hiện từ năm 2014 nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 688 BLDS 2015 và áp dụng các Điều 471, 474, 476, 477 BLDS 2005 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc 11.000.000đ (Mười một triệu đồng);

Về yêu cầu tính lãi: các bên thỏa thuận lãi 2%/tháng là vượt quá quy định tại khoản 1 Điều 476 BLDS 2005 nên chấp nhận tiền lãi bằng 150% lãi suất cơ bản 9%/năm = 1,125%/tháng từ ngày vay 11/02/2014 đến ngày xét xử sơ thẩm 18/10/2018 = (11.000.000 x 1,125%/tháng) x 04 năm 08 tháng 07 ngày = 6.958.875đ làm tròn số = 6.959.000đ (Sáu triệu chín trăm năm mươi chín ngàn đồng).

Tổng cộng cả gốc và lãi bị đơn Lê Văn Lập phải trả cho nguyên đơn Hồ Thị Thanh Sương là 17.959.000đ (Mƣời bảy triệu chín trăm năm mƣơi chín ngàn đồng). Bị đơn phải chịu khoản lãi suất do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại Điều 305 của Bộ luật dân sự 2005.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 BLTTDS, Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 471, 474, 476, 477, 305 Bộ luật dân sự năm 2005;

Tuyên xử:

[1]Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Hồ Thị Thanh Sương tại đơn khởi kiện ngày 10/7/2014, buộc bị đơn ông Lê Văn Lập trả cho nguyên đơn Hồ Thị Thanh Sương số tiền 17.959.000đ (Mƣời bảy triệu chín trăm năm mƣơi chín ngàn đồng) (trong đó gốc 11.000.000đ, lãi 6.959.000đ).

[2]Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (tức ngày 19/10/2018), nếu bị đơn chưa thanh toán xong số tiền nói trên thì phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

[3]Về án phí: Bị đơn ông Lê Văn Lập phải chịu 898.000 đồng (Tám trăm chín mươi tám ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Bà Hồ Thị Thanh Sương không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên được hoàn lại 275.000đ (Hai trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 02028 ngày 25/10/2016 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[4]Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ