vanban.org

Bản án 76/2017/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Nông Tuyên án 20/09/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/09/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phùng Văn H, Chu Văn T, Lương Văn Đ, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 23/2017/HSST ngày 11 tháng 7 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện C về phần hinh pha ̣t đối vớ i các bị

̀ cáo. Tuyên bố các bi ̣ cáo Phùng Văn H, Chu Văn T, Lương Văn Đ phạm tội : “Đá nh bạc”. ́ bị bắt tạm giữ từ ngày 05/4/2017 đến ngày 12/4/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phùng Văn Hiến và đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phùng Văn H, Chu Văn T, Lương Văn Đ, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 23/2017/HSST ngày 11 tháng 7 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện C về phần hinh pha ̣t đối vớ i các bị
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 248 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2017/HSPT
Ngày 20/9/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

́

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐĂK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Thông;

Các Thẩm phán:

Ông Lương Đức Dương;

Ông Phạm Văn Cảnh.

- Thư ký phiên toà: Ông Pha ̣m Duy Cườ ng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hoa – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắ k Nông xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 73/2017/HSPT ngày 21 tháng 8 năm 2017 đối với các bị cáo Phùng Văn H và các bị cáo khác do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2017/HSST ngày 11 tháng 7 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện C.

Các bị cáo có kháng cáo:

1. Phùng Văn H, sinh năm 1978, tại tỉnh Lạng Sơn; nơi cư trú: Thôn 7, xã Đ, huyện C, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá: 01/12; dân tô ̣c: Nùng; con ông Phùng Văn C (đa chết) và bà Hoàng Thị P; có vợ Hoàng Thị̃ Đ và 03 con, lớ n nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án: 01 tiền án, ngày 15/9/2015 bị Tòa án nhân dân huyện C xử 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thờ i gian thử thách là 01 năm tinh từ ngày tuyên án sơ thẩm về tô ̣i “ Đánh

́

bạc”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt ; bị bắt tạm giữ từ ngày 05/04/2017 đến ngày 12/4/2017 được ta ̣i ngoa ̣i theo Lê ̣nh cấm đi khỏi nơi cư trú của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C – Có mặt.

2. Chu Văn T, sinh năm 1983, tại tỉnh Bắc Giang; nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện C, tỉnh Đắk Nông ; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá: 09/12; dân tô ̣c: Nùng; con ông Chu Văn S và bà Lý Thị N; có vợ Hứa Thị B và 02 con, lớ n sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2014; tiền sự: 01 tiền sự, ngày 09/11/2016 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C xử pha ̣t hành chinh về h ành vi đánh bạc

́ với số tiền 1.500.000đ, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt ; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05/04/2017 đến ngày 12/4/2017 được ta ̣i ngoa ̣i theo Lê ̣nh cấm đi khỏi nơi cư trú của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C – Có mặt.

3. Lương Văn Đ, sinh năm 1986, tại tỉnh Lạng Sơn ; nơi cư trú: Thôn 4, xã N, huyện C, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá: 05/12; dân tô ̣c: Nùng; con ông Lương Văn N (đa chết) và bà Hoàng Thị Đ; có vợ Trịnh Thị̃ H và 01 con, sinh năm 2007; nhân thân : Ngày 26/5/2009 bị Tòa án nhân dân huyện C xử pha ̣t 09 tháng tù nhưng cho hưở ng án treo về tô ̣i “ Đánh ba ̣c” , ngày 10/02/2015 bị Tòa án nhân dân huyê ̣n Đ xử pha ̣t tiền 10.000.000 đồng về tô ̣i đánh bạc, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt; hiê ̣n bi ̣ cáo đang được ta ̣i ngoa ̣i theo Lê ̣nh cấm đi khỏi nơi cư trú của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C – Có mặt.

Ngoài ra còn có 05 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo

, không bi ̣ khá ng nghi ̣.

NỘI DUNG VỤ Á N:

Qua các tài liệu trong hồ sơ vụ án và quá tr ình xét hỏi, tranh luâ ̣n ta ̣i phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 05/4/2017, Vi Văn M, Chu Văn T, Vi Văn T, Phùng Văn H, Lý Văn N , Hoàng Văn T , Vi Văn E và Lương Văn Đ sau khi nhâ ̣u xong ở nhà Vi Vă n M, tại thôn 16, xã Đ, huyện C, tỉnh Đắk Nông thì tất cả rủ nhau đánh bạc. Sau đó Hoàng Văn T dùng kéo trong nhà Vi Văn M cắt 04 con vị hình tròn từ vỏ bao thuốc là ngựa nâu . Vi Văn M lấy 01 chiếu cói, 02 đèn pin loại đội đầu, chén và đĩa sứ trong nhà M, sau đó cùng các đối tượng đến khu vực rẫy cao su của bà Liễu Thi ̣ S thuô ̣c thôn 16, xã Đ, huyện C để đánh bạc được thua bằng tiền dướ i hinh thứ c xóc đia. Hình thức đánh xóc đĩa như sau: Ngưỡ

̀ i cầm cái

̀ cho 04 con vi ̣ hinh tròn được chuẩn bi ̣ từ trướ c vào trong lòng đia sứ rồi úp chén

̀

̃ lên, sau đó dùng hai tay cầm chén, đia sõ ́c nhiều lần rồi đă ̣t xuống trướ c mă ̣t minh

̀ và các con bạc cùng chơi . Ngườ i tham gia đă ̣t tiền theo bên chẳn hoă ̣c bên lẻ sau khi đă ̣t cược xong ngườ i cầm cái se mỡ ̉ chén ra . Nếu trên đia cõ

́ 04 con vi ̣ cùng mă ̣t màu trắng hoă ̣c mă ̣t màu nâu hoă ̣c có 02 con vi ̣ mă ̣t màu trắng và 02 con vi ̣ mặt màu nâu thi là chẵn, lúc này ai đă ̣t bên chẵn se thẵ ́ng, bên le sẽ thua. Nếu trêñ

̀ đia cõ

́ 03 con vi ̣ mă ̣t màu trắng 01 con vi ̣ mă ̣t màu nâu hoă ̣c ngược la ̣i thi là lẽ ,

̀ lúc này ai đặt bên lẽ sẽ thắng , bên chẵn se thua . Ngưỡ

̀ i cầm cái lấy tiền của bên thua và phả i chung tiền cho bên thắng bằng vớ i số tiền ho ̣ đa đă ̣̃ t lúc đầu . Trong quá trình chơi thì Hoàng Văn T là người cầm cái , Lý Văn N vừ a đánh ba ̣c vừ a cầm đèn để soi sáng , thỉnh thoảng Vi Văn M cũng cầm đèn pin còn lại để soi sáng. Khi thực thực hiê ̣n hành vi đánh ba ̣c có thu tiền xâu được 400.000 đồng và đưa cho Vi Văn M để trả tiền mượn dụng cụ để đánh bạc. Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công a n huyện C bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc 12.630.000đ, thu giữ trong người bị cáo Phùng Văn H 17.800.000đ cùng một số dụng cụ đánh bạc. Lương Văn Đ bỏ chạy, đến ng ày 10/4/2017, đến Công an huyện C đầu thú, khai nhâ ̣n toàn bô ̣ hành vi đánh ba ̣c của mình.

Quá trình điều tra đã chứng minh được Phùng Văn H sử dụng 3.800.000đ đánh bạc, khi bị bắt không biết thắng hay thua; Chu Văn T sử dụng 800.000đ đánh bạc, khi bắt bị thua hết; Lương Văn Đ sử dụng đánh bạc 3.000.000đ, khi bắt không biết thắng hay thua, vứt toàn bộ tiền đang cầm trên tay bỏ chạy.

Đối với số tiền thu giữ trong người bị cáo H, cơ quan điều tra đã chứng minh số tiền nay bị cáo không sử dụng vào việc đánh bạc, nên đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bị cáo.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2017/HSST ngày 11 tháng 7 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện C đã : Tuyên bố các bị cáo phạm tội “Đá nh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 53 của Bộ luật hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo Phùng Văn H 04 (bốn) tháng tù. Được khấu trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 05/4/2017 đến ngày 12/4/2017 là 07 ngày. Bị cáo còn phải chấp hành 03 tháng 23 ngày tù. Thờ i ha ̣n chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 53 của Bộ luật hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo Chu Văn T 03 (ba) tháng tù. Được khấu trừ thờ i ha ̣n ta ̣m giữ từ ngày 05/4/2017 đến ngày 12/4/2017 là 07 ngày. Bị cáo còn phải chấp hàn h 02 tháng 23 ngày tù . Thờ i ha ̣n chấp hành hinh pha ̣t tù tinh từ

̀

́ ngày bắt thi hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 53 của Bộ luật hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo Lương Văn Đ 03 (ba) tháng tù. Thờ i hạn chấp hành hinh pha ̣t tù tinh từ ngày bắt thi hành án.

̀

́

Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với các bị cáo còn lại, về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo.

Ngày 18/7/2017, các bị cáo Phùng Văn H, Chu Văn T và Lương Văn Đ kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét áp dụng Điều 60 của Bộ luâ ̣t hinh sự cho các bi ̣ cáo được hưở ng án treo.

̀

Kết quả xét hỏi tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo vẫn giữ nguyên nô ̣i dung kháng cáo và đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phùng Văn H, Chu Văn T và Lương Văn Đ. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm

số 23/2017/HSST ngày 11 tháng 7 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện C về phần hình phạt đối với các bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ nô ̣i dung vu ̣ án, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo.

NHẬN ĐI ̣NH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

[1] Tại phiên toà phúc thẩm các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên toà sơ thẩm. Các bị cáo thừa nhận Toà án nhân dân huyện C xét xử các bị cáo về tội đánh bạc theo khoản 1 Điều 248 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, không oan.

[2] Xét kháng cáo của các bị cáo xin hưởng án treo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Phùng Văn H có 01 tiền án, ngày 15/9/2015, bị Tòa án nhân dân huyện C xử phạt 03 tháng tù nhưng cho hư ởng án treo về tô ̣i “Đánh ba ̣c” , chưa được xoá án tích. Bị cáo Chu Văn T có 01 tiền sự, ngày 09/11/2016, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công án huyện C xử pha ̣t hành chinh về hành vi đánh ba ̣c vớ i số tiền

́

1.500.000đ. Bị cáo Lương Văn Đ có nhân thân xấu, ngày 26/5/2009, bị Tòa án nhân dân huyện C xử pha ̣t 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “ Đánh bạc”, ngày 10/02/2015 bị Tòa án nhân dân huyê ̣n Đ xử pha ̣t tiền 10.000.000 đồng về tô ̣i đánh ba ̣c. Như vậy, các bị cáo không đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2013 về hướng dẫn áp dụng Điều 60 Bộ luật hình sự về án treo. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm xử phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo là đúng pháp luật, nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hinh

̀ phạt đối với các bị cáo.

[3]. Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viê ̣n kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông tại phiên toà là có căn cứ.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhâ ̣n nên các bị cáo phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 của Bộ luật tố tụng hình sự,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phùng Văn H, Chu Văn T, Lương Văn Đ, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 23/2017/HSST ngày 11 tháng 7 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện C về phần hinh pha ̣t đối vớ i các bị

̀ cáo. Tuyên bố các bi ̣ cáo Phùng Văn H, Chu Văn T, Lương Văn Đ phạm tội : “Đá nh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 53 của Bộ luật hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo Phùng Văn H 04 (bốn) tháng tù. Thờ i ha ̣n tù tinh từ ngày bắt thi hành án , được khấu trừ thời gian bị cáo

́ bị bắt tạm giữ từ ngày 05/4/2017 đến ngày 12/4/2017.

Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 53 của Bộ luật hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo Chu Văn T 03 (ba) tháng tù. Thờ i ha ̣n tù tinh

́ từ ngày bắt thi hành án , được khấu trừ thời gian bị cáo bị bắt tạm giữ từ ng ày 05/4/2017 đến ngày 12/4/2017.

Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 53 của Bộ luật hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo Lương Văn Đ 03 (ba) tháng tù. Thờ i hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Về án phi hình sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 99 của Bộ luật tố tụng

́ hình sự; điểm a khoản 2 Điều 23 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu , miễn giảm, thu, nô ̣p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án . Buô ̣c các bi ̣ cáo Phùng Văn H, Chu Văn T, Lương Văn Đ mỗi bi ̣ cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

̀ Nơi nhận:

Cỡ chữ