vanban.org

Bản án 76/2017/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Bắc Giang Tuyên án 22/08/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/08/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hà Văn M về hình phạt tù.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Văn M phạm tội “Đánh bạc”. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1, khoản 3, Điều 248; điểm h, điểm p, khoản 1, khoản 2, Điều 46; Điều 33- Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009; điểm x, khoản 1, Điều 51- Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Hà Văn M 05 (nă… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn M "đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hà Văn M về hình phạt tù.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng điều 60 của…; Nghị quyết số 01/2016/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Nghị quyết số 109/2015/QH13 Về việc thi hành Bộ Luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2017/HSPT
Ngày: 22-8-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ong Thân Thắng.

Các Thẩm phán: 1. Ông Ngô Quang Dũng.

2. Ông Bạch Đăng Thi.

- Thư ký phiên toà: Ông Ngô Văn Quang - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hồng Tiến - Kiểm sát viên trung cấp.

Trong ngày 22 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 90/2017/HSPT ngày 29/6/2017 đối với bị cáo Hà Văn M do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 29/2017/HSST ngày 17/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang.

* Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Hà Văn M, tên gọi khác: không có; sinh năm 1967 tại xã P, huyện L; nơi đăng ký HKTT: thôn K, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang; số Chứng minh nhân dân: 120869***; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hoá: 7/10; dân tộc: Kinh; con ông Hà Văn H, sinh năm 1932 và bà Phạm Thị S, sinh năm 1932 (đã chết); có vợ Trần Thị V, sinh năm 1968 và có 3 con; tiền sự: Quyết định số 96/QĐ-XPHC ngày 03/6/2016 Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang xử phạt 1.500.000 đồng hành vi đánh bạc; tiền án: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/6/2016 đến ngày 27/6/2016, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.

* Những người tham gia tố tụng: Vụ án còn có 4 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản cáo trạng số 32/KSĐT ngày 19/4/2017 của VKSND huyện L và bản án hình sự sơ thẩm số 29/2017/HSST ngày 17/5/2017 của TAND huyện L, tỉnh Bắc Giang thì nội dung vụ án như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 21/6/2016, tại quán nhà chị Vi Thị H, ở tại thôn M, xã P, huyện L, bị cáo Hà Văn M có hành vi đánh bạc cùng anh Trần Văn P, chị Lê Thị H, anh Nguyễn Văn Đ và 01 người đàn ông nữa nhưng không xác định được tên tuổi, địa chỉ. Hình thức đánh bạc là đánh liêng được thua bằng tiền. Các đối tượng đánh bạc sử dụng một bộ bài tú lơ khơ 52 quân từ quân A (át) đến quân K. Mỗi ván bạc chia cho mỗi người 03 quân bài, sau đó mọi người kiểm tra bài của mình. Nếu bài của người nào được ba quân theo hàng ngang được gọi là ba đầu sáp là bài lớn nhất. Ba đầu sáp lớn nhất là ba quân A (át), tiếp đến là ba quân K và những quân tiếp theo. Nếu bài của người nào được ba quân theo hàng dọc liền nhau gọi là được liêng là bài lớn thứ hai (liêng lớn nhất là Q, K, A) được tính theo chất (rô, cơ, bích, nhép) do những người chơi quy định. Nếu bài người nào được ba quân bài đều là hình người nhưng không liền nhau theo hàng dọc hoặc hàng ngang được gọi là tranh hình ảnh là bài lớn thứ ba. Nếu không có bài người nào được ba đầu sáp; liêng hoặc tranh hình ảnh thì sẽ được tính theo điểm (quân 10, J, Q, K được tính là 0 điểm; quân A(át) là 1 điểm; các quân bài còn lại lấy số điểm theo số ghi trên quân bài) cũng được quy định theo chất (rô, cơ, bích, nhép) do người chơi tự quy định. Mỗi ván bài mỗi người chơi đặt vào giữa 5.000 đồng gọi là vào gà, khi lên bài cộng điểm xong các đối tượng bắt đầu đặt cược (hay còn gọi là tố), mức đặt cược thấp nhất 5.000 đồng, cao nhất là 50.000 đồng. Người đặt cược đầu tiên là người chia bài, sau đó lần lượt những người bên tay phải người chia bài đặt cược. Sau khi người chia bài đặt cược, người bên tay phải người chia bài có thể theo bằng mức người chia bài đã đặt cược hoặc đặt cược cao hơn mức người đặt cược trước đó hoặc có thể bỏ không theo. Nếu người nào theo cược thì thông báo theo bài, nếu không theo thì coi như thua ván đó. Khi tất cả mọi người đã đặt cược xong thì bắt đầu tính điểm giữa những người theo bài, nếu bài của ai lớn nhất thì sẽ được lấy tiền ở giữ (tiền gà) và tiền những người đã đặt cược thêm. Người thắng bạc ván đó sẽ là người cầm bài để chia đánh ván tiếp theo. Trong quá trình chơi, nếu ván bài nào có người nào được ba đầu sáp thì tự nguyện bỏ ra số tiền 10.000 đồng để trả tiền điện nước cho chủ nhà.

Những người này tham gia sát phạt nhau đến 16 giờ 55 phút cùng ngày đã bị tổ công tác Công an huyện L phát hiện bắt quả tang, bắt giữ được 04 người gồm: Bị cáo Hà Văn M, anh Trần Văn P, chị Lê Thị H, anh Nguyễn Văn Đ, còn đối tượng đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ đã bỏ chạy thoát. Tang vật thu giữ gồm: Số tiền tại chiếu bạc 1.535.000 đồng; số tiền dưới chiếu bạc trước mặt anh Nguyễn Văn Đ 830.000 đồng; số tiền trước mặt chị Lê Thị H dưới chiếu bạc 6.335.000 đồng; số tiền trước mặt anh Trần Văn P dưới chiếu bạc 440.000 đồng; số tiền trước mặt bị cáo Hà Văn M dưới chiếu bạc là 10.000 đồng; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân từ quân A(át) đến quân K; 01 chiếu cói đôi đã cũ. Ngoài ra bị cáo Hà Văn M tự giao nộp số tiền 730.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel C900 màu viền trắng đã qua sử dụng; anh Trần Văn P tự giao nộp số tiền 5.000.000 đồng, 01 điện thoại di động màu đỏ đen nhãn hiệu Qmobile LV7 đã qua sử dụng; chị Lê Thị H tự giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia Lumia 730 màu trắng ốp đỏ đã qua sử dụng. Các đối tượng khai nhận số tiền đem theo và sử dụng vào mục đích đánh bạc như sau: Bị cáo Hà Văn M khai có 300.000 đồng đều sử dụng vào mục đích đánh bạc, khi Công an đến bắt quả tang bị cáo M đang thắng được 430.000 đồng, bị cáo đã tự giao nộp số tiền 730.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel C900 màu viền trắng không sử dụng vào mục đích đánh bạc. Chị Lê Thị H khai có 6.335.000 đồng, nhưng chỉ bỏ ra 300.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc, còn 6.035.000 đồng không sử dụng vào mục đích đánh bạc chị H để trong túi quần. Quá trình đánh bạc không thắng không thua, khi Công an đến bắt quả tang chị H đã đánh rơi số tiền 6.035.000 đồng ở trong túi quần ra chiếu bạc và đã bị thu giữ cùng với số tiền trước đó đã bỏ ra đánh bạc. Anh Nguyễn Văn Đ khai có 950.000 đồng đều sử dụng vào mục đích đánh bạc, quá trình đánh đã bị thua, còn 830.000 đồng khi Công an đến bắt quả tang đã bị thu giữ. Anh Trần Văn P khai có 5.440.000 đồng nhưng chỉ bỏ ra 440.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc, quá trình đánh bạc không thắng không thua, khi Công an đến bắt quả tang đã thu giữ số tiền 440.000 đồng. Số tiền thu tại chiếu bạc, sử dụng vào mục đích đánh bạc và thu lợi bất chính từ đánh bạc là 3.845.000 đồng.

Cáo trạng số 32/KSĐT ngày 19/4/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện L đã truy tố bị cáo Hà Văn M về tội "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1, Điều 248 Bộ luật Hình sự.

Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2017/HSST ngày 17/5/2017 của TAND huyện L, tỉnh Bắc Giang đã xét xử và quyết định: Tuyên bố bị cáo Hà Văn M phạm tội “Đánh bạc”.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, điểm p, khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm x, khoản 1, Điều 51- Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Hà Văn M 08 (tám) tháng tù nhưng được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/6/2016 đến ngày 27/6/2016. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Phạt bổ sung bằng tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) sung quỹ nhà nước.

Ngoài ra bản án còn giải quyết xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử xong, ngày 30/5/2017 bị cáo Hà Văn M nộp đơn kháng cáo đến TAND huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nội dung kháng cáo của bị cáo là đề nghị cấp phúc thẩm xem xét cho hưởng án treo.

Tại phiên toà phúc thẩm:

- Bị cáo Hà Văn M giữ nguyên yêu cầu kháng xin được hưởng án treo, ngoài ra còn đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Lý do: Bị cáo đã biết sai và cam kết sẽ không bao giờ tái phạm nữa. Hoàn cảnh gia đình bị cáo có khó khăn, vợ bỏ đi làm ăn xa 10 năm nay không biết tung tích ở đâu, bị cáo lại là lao động chính trong gia đình phải nuôi 3 con chưa có công ăn việc làm và thu nhập.

- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đơn kháng cáo của bị cáo được nộp cho TAND huyện L, tỉnh Bắc Giang trong thời hạn 15 ngày sau khi tuyên án nên được coi là kháng cáo hợp lệ, đề nghị HĐXX chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm cho bị cáo. Căn cứ tài liệu chứng cứ trong hồ sơ thấy bản án sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai. Tại quá trình xét xử phúc thẩm bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào khác. Căn cứ vào vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, khoản 2, Điều 248-BLTTHS không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 29/2017/HSST ngày 17/5/2017 của TAND huyện L, tỉnh Bắc Giang. Các quyết định khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

- Bị cáo tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.

- Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị HĐXX xem xét hoàn cảnh gia đình, chấp nhận kháng cáo cho bị cáo được hưởng án treo hoặc giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và của những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Hà Văn M được nộp trực tiếp cho Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang ngày 30/5/2017 theo đúng quy định tại khoản 1, Điều 234- Bộ luật tố tụng hình sự nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp. HĐXX chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo Hà Văn M: Khoảng 16 giờ ngày 21/6/2016, bị cáo Hà Văn M thực hiện hành vi đánh bạc cùng anh Trần Văn P, chị Lê Thị H, anh Nguyễn Văn Đ và 01 người đàn ông nữa nhưng không xác định được tên tuổi, địa chỉ. Đánh bạc bằng hình đánh liêng được thua bằng tiền tại quán của chị Vi Thị H ở thôn M, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Những người này tham gia sát phạt nhau đến 16 giờ 55 phút cùng ngày đã bị tổ công tác Công an huyện L phát hiện bắt quả tang, bắt giữ được 04 người gồm: Bị cáo Hà Văn M, anh Trần Văn P, chị Lê Thị H và anh Nguyễn Văn Đ, còn đối tượng đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ đã bỏ chạy thoát. Bị cáo Hà Văn M có 300.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc khi bị bắt bị cáo thắng bạc là 430.000 đồng, bị cáo tự nguyện nộp số tiền là 730.000 đồng. Số tiền thu tại chiếu bạc, sử dụng vào mục đích đánh bạc và thu lợi bất chính từ đánh bạc là 3.845.000 đồng chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự. Nhưng do ngày 03/6/2016 bị cáo M có hành vi tham gia đánh bạc và bị Công an huyện L xử phạt vi phạm hành chính. Đến ngày 21/6/2016 chưa hết thời hiệu bị xử phạt vi phạm hành chính bị cáo lại tiếp tục tham gia đánh bạc. Căn cứ Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc hội; Nghị quyết số 01/2016/NQ-HĐTP ngày 30/6/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13; Công văn số 80/TANDTC-PC ngày 29/3/2016 của Tòa án nhân dân tối cao thì hành vi của bị cáo M đã đủ yếu tố cấu thành tội đánh bạc được quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự. Từ những nội dung trên Tòa án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1, Điều 248- Bộ luật hình sự năm 1999 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.

Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Hà Văn M thấy: Tòa án sơ thẩm đã xác định bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 48- BLHS là đúng. Tòa án sơ thẩm đã xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng ”, “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo điểm h, điểm p, khoản 1, Điều 46 - BLHS cho bị cáo và tình tiết “bố, mẹ bị cáo là người có công với cách mạng” được thưởng huân huy chương theo điểm x, khoản 1, Điều 51- Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng.

Về nhân thân của bị cáo: án sơ thẩm xác định bị cáo là người có nhân thân xấu là đúng, vì: tại Quyết định số 96/QĐ-XPHC ngày 03/6/2016 Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang xử phạt 1.500.000 đồng hành vi đánh bạc, điều đó thể hiện bị cáo là đối tượng coi thường pháp luật, không chịu tu dưỡng rèn luyện, ý thức chấp hành pháp luật kém.

Từ những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo cũng như vai trò, tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm của hành vi bị cáo đã thực hiện, cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt tù có thời hạn là hoàn toàn phù hợp quy định của pháp luật, đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa tội phạm.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Hà Văn M không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Mặc dù bị cáo Hà Văn M phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi thường trú cụ thể rõ ràng. Tuy nhiên bị cáo lại là đối tượng có nhân thân xấu đã bị xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc” ngày 03/6/2016 thì đến ngày 21/6/2016 lại tiếp tục có hành vi đánh bạc nên căn cứ theo hướng dẫn tại điểm b9, mục b, khoản1, Điều 2- Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì không vận dụng sự khoan hồng của pháp luật cho bị cáo hưởng án treo được.

Xét quan điểm của bị cáo về xin giảm nhẹ hình phạt HĐXX thấy: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi đánh bạc của bị cáo cùng các đối tượng khác chỉ có 3.845.000 đồng trong đó bị cáo có 300.000 đồng tham gia đánh bạc. Bị cáo bị kết tội do đã có tiền sự về hành vi đánh bạc. Mức hình phạt 08 tháng tù mà cấp sơ thẩm buộc bị cáo phải chấp hành là có phần nghiêm khắc, không tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần xem xét chấp nhận giảm một phần hình phạt tù cho bị cáo. Do đó HĐXX phúc thẩm căn cứ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hà Văn M về việc xin được hưởng án treo; áp dụng quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 248; điểm c, khoản 1, Điều 249- Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt tù đã xét xử đối với bị cáo.

Án sơ thẩm cần rút kinh nghiệm khi phạt bổ sung bị cáo 3 triệu đồng nhưng trong phần quyết định không áp dụng quy định tại khoản 3, Điều 248- BLHS.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng điểm h, khoản 2, Điều 23- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Hà Văn M không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 248; điểm c, khoản 1, Điều 249- Bộ luật tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hà Văn M về hình phạt tù. Sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 29/2017/HSST ngày 17/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang.

-Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Văn M phạm tội “Đánh bạc”.

-Về hình phạt: Áp dụng khoản 1, khoản 3, Điều 248; điểm h, điểm p, khoản 1, khoản 2, Điều 46; Điều 33- Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009; điểm x, khoản 1, Điều 51- Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Hà Văn M 05 (năm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/6/2016 đến ngày 27/6/2016.

[2] Án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng điểm h, khoản 2, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Hà Văn M không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm số 29/2017/HSST ngày 17/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ