- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nông Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 BLHS - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiế…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13; Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 76/2017/HS-ST Ngày: 07/11/2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
Thành phần hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bế Lan Phương
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đinh Văn Hải
2. Ông Dương Khánh Luy
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Ngọc Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thµnh phè Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thµnh phè Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Mã Thị Hân - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 11 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 73/2017/HSST ngày 16 tháng 10 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 172/2017/QĐXXST-HS ngày 24/10/2017 đối với bị cáo:
Nông Văn T- sinh ngày 07/10/1988;
Tại: Thạch An - Cao Bằng;
Hộ khẩu thường trú: BS, KĐ, TA, tỉnh Cao Bằng;
Dân tộc: Nùng; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không;
Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12 phổ thông;
Con ông: Nông Văn T - sinh năm 1965; Con bà: Âu Thị T - sinh năm 1964; Cùng trú tại: BS, KĐ, TA, tỉnh Cao Bằng;
Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình;
Vợ: Nhâm Thị Y, sinh năm 1992; Trú tại: BS, KĐ, TA, tỉnh Cao Bằng;
Bị cáo có 02 con. Con thứ nhất sinh năm 2011, con thứ hai sinh 2014;
Tiền án, tiền sự: Không;
Hiện nay bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng từ ngày 02 tháng 8 năm 2017; Có mặt.
Người làm chứng:
1. Nguyễn Văn H
Địa chỉ: TT GDLDXH tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt.
2. Lương Xuân Q
Địa chỉ: TT GDLDXH tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 16 giờ ngày 02/8/2017 tại TT GDLDXH tỉnh Cao Bằng, Công an phường SH và cán bộ TT GDLDXH tỉnh Cao Bằng lập biên bản quả tang Nông Văn T(Trú tại xóm BS, xã KiĐ, huyện TA, tỉnh Cao Bằng) về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.Vật chứng thu giữ được 02 gói nhỏ bên trong có chứa hêroin có trọng lượng 0,24 gam. Cùng ngày, Công an phường SH đã giao toàn bộ hồ sơ vụ án đến cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Cao Bằng để xử lý điều tra theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra, Nông Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội như sau:
Do bản thân nghiện ma túy và chuẩn bị vào TT GDLDXH tỉnh Cao Bằng cai nghiện, sợ trong quá trình cắt cơn nghiện sẽ vất vả nên T đã đi mua ma túy để mang theo, khi lên cơn vật sẽ sử dụng dần. Khoảng 11 giờ ngày 02/8/2017 T đến nhà Vương Văn T (Ở cùng xóm) để mua ma túy với Trương Xuân T (Thợ xây nhà cho anh Vương Văn T). Khi gặp T, T hỏi T “Có không” (Ý hỏi là có heroin không), T hiểu ý và gật đầu. T đưa cho T 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng), T cầm tiền của T và bảo T đợi. T đi khoảng 5 phút sau quay lại đưa cho T 01 gói heroin được gói bằng giấy bạc màu trắng (Việc mua bán giữa T và T không ai biết). T cầm gói heroin về nhà, chích lấy một ít heroin vừa mua được ra để sử dụng cho bản thân, bằng cách đốt hít vào cơ thể. Số heroin còn lại, T chia làm 02 gói nhỏ và gói lại bằng vỏ bao thuốc lá, sau đó lấy nilon màu hồng gói ngoài; T dùng kim chỉ khâu 02 gói heroin vào 02 ống quần của mình đang mặc. Khoảng 15 giờ cùng ngày T đi cùng mẹ là Âu Thị T đến TT CN tỉnh Cao Bằng để làm thủ tục cho T cai nghiện tự nguyện tại Trung tâm. Sau khi làm xong thủ tục thì bà Âu Thị T đi về trước, còn T ở lại Trung tâm, khi cán bộ trung tâm kiểm tra người và hành lý của T đã phát hiện ra 02 gói heroin T cất giấu trong hai ống quần T đang mặc. Cán bộ Trung tâm đã gọi Công an phường SH đến lập biên bản bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.
Hành vi của Nông Văn T đã bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy tố trước pháp luật về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.
Tại bản cáo trạng số: 74/KSĐT-MT ngày 16/10/2017 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng đã truy tố bị cáo Nông Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố: Hành vi của bị cáo Nông Văn T đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận về hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng truy tố.
Các vấn đề khác của vụ án:
Tại biên bản mở niêm phong tang vật cân xác định trọng lượng tịnh lấy mẫu giám định và niêm phong lại do cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Bằng lập hồi 18 giờ ngày 02/8/2017 đã xác định: Trọng lượng tịnh tang vật: 0,24 (Không phẩy hai mươi bốn) gam.
Ngày 03 tháng 8 năm 2017, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng ra Quyết định trưng cầu giám định số 112 đối với vật chứng của vụ án. Tại bản kết luận giám định số 150 ngày 11 tháng 8 năm 2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Heroine.
Heroine là chất ma túy nằm trong Danh mục I, STT:20, Nghị định số: 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ".
Đối với Trương Xuân T (Trú tại: Tổ B, phường DT, thành phố CB), trong quá trình điều tra T khai không được bán ma túy cho T, việc trao đổi mua bán không ai biết nên cơ quan điều tra không có đủ căn cứ để xử lý đối với T.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự; Tuyên bố bị cáo Nông Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Xử phạt bị cáo Nông Văn T mức án từ 15 đến 18 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số heroin là vật chứng của vụ án.
Trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của bản thân, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
1. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
2. Các yếu tố cấu thành tội phạm:
Về mặt khách quan: Hồi 16 giờ, ngày 02/8/2017 tại TT GDLDXH tỉnh Cao Bằng, Công an phường SH và cán bộ TT GDLDXH tỉnh Cao Bằng lập biên bản quả tang Nông Văn T (Trú tại xóm BS, xã KĐ, huyện TA, tỉnh Cao Bằng) về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Về mặt chủ quan: Mục đích của bị cáo Nông Văn T tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ tàng trữ ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng do bản thân nghiện hút nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp.
Về mặt khách thể: Hành vi của Nông Văn T đã xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về quản lý chất ma túy được quy định trong Luật phòng, chống ma túy.
Về mặt chủ thể: Căn cứ vào quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự, bị cáo Nông Văn T đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ năng lực nhận thức, năng lực hành vi. Do đó, bị cáo Nông Văn T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình gây ra.
Từ những phân tích trên đây, hành vi của bị cáo Nông Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm gia tăng tình hình tội phạm tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng dân dân, hành vi của các bị cáo phải bị xử lý thích đáng. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng truy tố bị cáo Nông Văn T theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
3. Xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo:
Qua xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự không có.
Tuy nhiên, do chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với tội phạm này có sự thay đổi, xét thấy cần xem xét, áp dụng các chính sách có lợi cho bị cáo Nông Văn T trong vụ án này: Tại điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật tố tụng hình sự số 101/2015/QH13; Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13; Luật thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13; Theo đó, tiếp tục thực hiện các quy định tại khoản 3, Điều 7 của Bộ luật hình sự 2015 và các quy định có lợi cho người phạm tội được áp dụng. Do đó, theo hướng có lợi cho người phạm tội thì khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 với hình phạt từ 01 năm đến 05 năm. Trong vụ án này, bị cáo có một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo tàng trữ ma túy với trọng lượng không lớn, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ để răn đe, giáo dục bị cáo sớm trở thành một công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội, làm gương cho những người có ý định phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy mức án Viện kiểm sát đề nghị từ 15 đến 18 tháng tù là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần được chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự quy định "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm"; Vì vậy, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo nghiện hút, không có thu nhập, điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
4. Về xử lý vật chứng:
- 01(Một) phong bì mặt trước ghi tang vật cân vụ: Nông Văn T - SN 1988, HKTT: BS, KĐ, TA, Cao Bằng. Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 02/8/2017; mặt sau có chữ ký của những tham gia niêm phong và 03(Ba) dấu tròn của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng, cần được tịch thu tiêu hủy.
Vật chứng trên hiện đang được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 01/9/2017.
5.Về án phí: Bị cáo Nông Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi bổ sung năm 2009); Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.
Xử phạt bị cáo Nông Văn T 15 (Mười năm) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt từ ngày bị cáo bị bắt 02/8/2017.
2.Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 41 Bộ luật hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01(Một) phong bì mặt trước ghi tang vật cân vụ: Nông Văn T - SN 1988, HKTT: BS, KĐ, TA, Cao Bằng. Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 02/8/2017; mặt sau có chữ ký của những tham gia niêm phong và 03 (Ba) dấu tròn của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng.
Xác nhận số vật chứng này hiện nay đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 01/9/2017.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Buộc bị cáo Nông Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ./.
| Nơi nhận: -Tòa án tỉnh Cao Bằng; - Công an tỉnh Cao Bằng; - Viện kiểm sát TP Cao Bằng; - Công an TP Cao Bằng; - Thi hành án DSTP Cao Bằng; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bế Lan Phƣơng |