vanban.org

Bản án 757/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Hoàng Mạnh L đối với chị Nguyễn Thị Thanh T. Cho anh Hoàng Mạnh L được ly hôn chị Nguyễn Thị Thanh T.

Về nuôi con chung: Xác nhận anh Hoàng Mạnh L và chị Nguyễn Thị Thanh T có 01 con chung là cháu Hoàng Thiên B (nam) sinh ngày 02/02/2015. Ly hôn giao cho chị T là người trực tiếp nuôi Cháu B, ghi nhận anh Hoàng Mạnh L tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung 6 triệu đồng/tháng, hạn cấp dưỡng kể từ tháng 12… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "anh Hoàng Mạnh L và chị Nguyễn Thị Thanh T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Hoàng Mạnh L đối với chị Nguyễn Thị Thanh T. Cho anh Hoàng Mạnh L được ly hôn chị Nguyễn Thị Thanh T.
  • Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 757/2020/HNGĐ - ST
Ngày: 25 tháng 12 năm 2020
V/v: Tranh chấp Ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Chu Thị Tuyết

2. Ông Đỗ Quang Linh

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Thanh Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân: Bà Nguyễn Thị Mai Hương – Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 25 tháng 12 năm 2020 tại phòng xét xử trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 513/2020/TLST - HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2020, về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 513/2020/QĐXX-ST ngày 01 tháng 12 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 133/2020/QĐST – HNGĐ ngày 21/12/2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Hoàng Mạnh L, sinh năm 1987

Trú tại: 14 lô 1 khu đô thị N, phường D, quận C, Hà Nội. Có mặt.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1989

Trú tại: căn 3102A Đơn nguyên 2 tòa H, 27 L. V. L, phường N, quận T, Hà Nội. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án anh Hoàng Mạnh L trình bầy:

- Về quan hệ hôn nhân: anh và chị Nguyễn Thị Thanh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường D, quận C, thành phố Hà Nội ngày 29/5/2014.

Anh chị sống tại địa chỉ căn 3102A Đơn nguyên 2 tòa H, 27 L. V. L, phường N, quận T, Hà Nội từ năm 2018 cho đến nay.

Quá trình chung sống, vợ chồng anh chị hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng tính cách không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, anh chị đã ly thân từ tháng 7/2020 đến nay mỗi người sống một nơi không ai còn quan tâm đến ai. Trước khi anh L gửi đơn ra Tòa án xin ly hôn anh chị có nói chuyện với nhau thì chị T nói “anh muốn làm gì thì làm, em không quan tâm”.

Nay anh L xác định tình cảm vợ chồng với chị T không còn cuộc sống chung không thể tiếp tục, anh L đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị T.

- Về con chung: anh và chị T có 01 con chung là cháu Hoàng Thiên B (nam) sinh ngày 02/02/2015, ly hôn anh L đồng ý để chị T nuôi con chung và anh tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 6 triệu đồng/tháng.

Thu nhập của anh L hiện nay 10 triệu đồng/tháng, thu nhập hiện nay của chị T là 13 triệu đồngh/tháng. Cháu B hiện đang ở với mẹ tại căn 3102A Đơn nguyên 2 tòa H, 27 L. V. L, phường N, quận T, Hà Nội, cháu khỏe mạnh phát triển bình thường.

- Về tài sản chung (gồm động sản và bất động sản): anh và chị tự thỏa thuận, anh không yêu cầu Tòa giải quyết

Về nợ: anh và chị T không có anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Án phí: anh L tự nguyện chịu cả 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Ngoài ra anh Hoàng Mạnh L không yêu cầu Tòa giải quyết vẫn đề nào khác.

Quá trình tòa án tiến hành giải quyết vụ án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho chị T, nhưng chị T không đến tòa do vậy các thủ tục cho chị T tự khai, đối chất, kiểm tra công khai đánh giá chứng cứ và hòa giải không thực hiện được, do vậy tòa án căn cứ vào Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện: đại diện tổ dân phố số 27 khu dân cư 17 phường Nhân Chính xác nhận anh Hoàng Mạnh L và chị Nguyễn Thị Thanh T trú tại căn 3102A Đơn nguyên 2 tòa H, 27 L. V. L, phường N, quận T, Hà Nội. Mâu thuẫn của hai vợ chồng anh chị không thể hòa giải được. Anh L chị T có 01 con chung là cháu Hoàng Thiên B, nam, sinh năm 2015.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Anh Hoàng Mạnh L vẫn giữ nguyên các yêu cầu đề nghị nêu trên và không yêu cầu thêm vấn đề gì khác.

Vị đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa có ý kiến: Quá trình tiến hành tố tụng giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến phiên tòa xét xử ngày hôm nay Thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tiến hành tố tụng theo đúng các trình tự thủ tục mà bộ luật tố tụng dân sự quy định. Nguyên đơn, đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng.

Về nội dung vụ án: Sau khi phát biểu đánh giá các tình tiết của vụ án. Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Hoàng Mạnh L đối với chị Nguyễn Thị Thanh T. Về con chung: Xác nhận anh L chị T có 01 con chung là Hoàng Thiên B (nam) sinh ngày 02/02/2015, ly hôn giao cho chị T là người trực tiếp nuôi con chung ghi nhận anh L tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 6.000.000 đồng/tháng. Về tài sản chung: anh L đề nghị vợ chồng tự thỏa thuận tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, về nợ: anh L không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Anh L phải chịu 300.000 VNĐ án phí ly hôn sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định hoãn phiên tòa cho chị T, nhưng tại phiên tòa hôm nay chị T vắng không có lý do. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vụ án vắng mặt chị T.

Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, bị đơn là chị Nguyễn Thị Thanh T. Chị T có nơi cư trú tại căn 3102A Đơn nguyên 2 tòa H, 27 L. V. L, phường N, quận T, Hà Nội. Nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Về nội dung:

.Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Mạnh L và chị Nguyễn Thị Thanh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường D, quận C, thành phố Hà Nội ngày 29/5/2014. Hôn nhân của anh L, chị T là hợp pháp.

Theo nội dung vụ án thể hiện: Quá trình chung sống, vợ chồng anh chị hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng tính cách không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, anh chị đã ly thân từ tháng 7/2020 đến nay mỗi người sống một nơi không ai còn quan tâm đến ai. Anh L trình bầy, trước khi anh L gửi đơn ra Tòa án xin ly hôn anh chị có nói chuyện với nhau thì chị T nói “anh muốn làm gì thì làm, em không quan tâm”. Vì vậy Hội đồng xét xử nhận thấy, cuộc sống chung giữa anh L và chị T không có hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng và mục đích hôn nhân không đạt được.

Quá trình giải quyết Tòa án đã tống đạt cho hợp lệ cho chị T đến Tòa để tòa án tiến hành hòa giải cho anh chị đoàn tụ, nhưng chị T không đến Tòa, việc chị T không đến tòa thể hiện việc chị không tôn trọng pháp luật và không mong muốn đoàn tụ hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do vậy xét yêu cầu ly hôn của anh Hoàng Mạnh L đối với chị Nguyễn Thị Thanh T là có căn cứ chấp nhận phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

. Về nuôi con chung: Anh Hoàng Mạnh L và chị Nguyễn Thị Thanh T có 01 con chung là cháu Hoàng Thiên B (nam) sinh ngày 02/02/2015. Ly hôn, anh L đồng ý để chị T trực tiếp nuôi Cháu B và tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung 6 triệu đồng/tháng. Cháu B hiện đang ở với chị T tại căn 3102A Đơn nguyên 2 tòa H, 27 L. V. L, phường N, quận T, Hà Nội, cháu khỏe mạnh và phát triển bình thường, chị T có thu nhập và công việc ổn định. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho Cháu B tốt nhất, căn cứ Điều 81, 82 và Điều 83 của luật hôn nhân và gia đình cần giao cho chị T trực tiếp nuôi cháu Hoàng Thiên B.

. Về chia tài sản chung (động sản và bất động sản): anh Hoàng Mạnh L trình bầy anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về nợ: anh Hoàng Mạnh L trình bầy không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5]. Về án phí: anh Hoàng Mạnh L phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Anh Hoàng Mạnh L và chị Nguyễn Thị Thanh T có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Từ nhận định trên!

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 56, các điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ vào Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 146; 147; Điều 207; khoản 2 Điều 227; các Điều 271; 273; 278; 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Hoàng Mạnh L đối với chị Nguyễn Thị Thanh T. Cho anh Hoàng Mạnh L được ly hôn chị Nguyễn Thị Thanh T.

2.Về nuôi con chung: Xác nhận anh Hoàng Mạnh L và chị Nguyễn Thị Thanh T có 01 con chung là cháu Hoàng Thiên B (nam) sinh ngày 02/02/2015. Ly hôn giao cho chị T là người trực tiếp nuôi Cháu B, ghi nhận anh Hoàng Mạnh L tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung 6 triệu đồng/tháng, hạn cấp dưỡng kể từ tháng 12/2020 cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có quyết định khác thay thế.

Anh Hoàng Mạnh L được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.

3. Về chia tài sản chung (gồm động sản và bất động sản): Anh Hoàng Mạnh L trình bầy anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa không xem xét.

4. Về nợ: Anh Hoàng Mạnh L trình bầy không có không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa không xem xét.

5. Về án phí: Anh Hoàng Mạnh L phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, anh L đã nộp đủ 300.000 đồng tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000572 ngày 28/9/2020 của Chi cục thi hành án dân sự quận T. Anh Hoàng Mạnh L phải chịu 150.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con (anh L chưa nộp).

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt anh L vắng mặt chị T. Anh L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, chị T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ