- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà Trần Thị Bích H và ông Đặng Ngọc Đ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Bích H là được ly hôn ông Đặng Ngọc Đ.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 750/2023/HNGĐ-ST Ngày 16 - 6 - 2023 V/v tranh chấp Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Châu Trinh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Ngọc
Ông Nguyễn Ngọc Cảnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Cẩm Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Diệu – Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1793/2022/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2022 về tranh chấp Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 204/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 226/2023/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Bích H, sinh năm 1980; địa chỉ: đường số 413, tổ 9A, ấp 3, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Bị đơn: Ông Đặng Ngọc Đ, sinh năm 1972; địa chỉ: đường 413, tổ 9A, ấp 3, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn nộp tòa ngày 02/12/2022 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày như sau:
Ông Đặng Ngọc Đ và bà Trần Thị Bích H sau một thời gian tìm hiểu nhau đã đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện theo Giấy chứng nhận kết hôn số 69/2014, quyển số 01 ngày 18/7/2014 do Ủy ban nhân dân xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh cấp. Thời gian đầu đời sống vợ chồng hạnh phúc. Trong quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên gây gổ. Nhận thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc như mong muốn, tình cảm vợ chồng không còn như trước, không thể tiếp tục duy trì hôn nhân được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên tại phiên tòa, nguyên đơn bà H giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông Đ.
Hai ông bà có 06 con chung, 04 con chung đã trưởng thành, đủ năng lực hành vi dân sự không có yêu cầu gì, 02 con chung chưa trưởng thành tên Đặng Thành Đ, sinh ngày 19/10/2015 và Đặng Thành Đ1, sinh ngày 19/10/2015, nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung chưa trưởng thành; không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nghĩa vụ dân sự chung: Không có.
Bị đơn: Ông Đặng Ngọc Đ vắng mặt không rõ lý do, không gửi ý kiến cho Tòa án.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi phát biểu quan điểm:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không.
- Về nội dung: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn. Đây là tranh chấp Ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Bị đơn hiện đang cư trú tại ấp 3, xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về tố tụng:
Tòa án triệu tập hợp lệ bị đơn ông Đặng Ngọc Đ lần thứ hai để tham gia tố tụng tại phiên tòa xét xử nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do, không có đơn xin vắng mặt và không có yêu cầu phản tố, bị đơn không cung cấp cho Tòa án ý kiến về yêu cầu của nguyên đơn cũng như cung cấp chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ án. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, đồng thời Hội đồng xét xử chỉ xem xét tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp.
Về quan hệ hôn nhân:
Ông Đặng Ngọc Đ và bà Trần Thị Bích H tự nguyện đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 69/2014, quyển số 01 ngày 18/7/2014 do Ủy ban nhân dân xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh cấp, đây là hôn nhân hợp pháp.
Về nội dung:
Xét yêu cầu về quan hệ hôn nhân: bà H trình bày do không hợp nhau về quan điểm sống, thường xuyên tranh cãi làm cuộc sống gia đình rơi vào nhiều bế tắc không hạnh phúc, nhận thấy không thể tiếp tục duy trì hôn nhân được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H kiên quyết yêu cầu ly hôn ông Đ. Ông Đ không đến Toà án theo giấy triệu tập của Tòa án đã thể hiện không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa ông Đặng Ngọc Đ và bà Trần Thị Bích H có mâu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà H được ly hôn với ông Đ là có cơ sở. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Xét yêu cầu về việc nuôi con chung: Hai ông bà có 06 con chung, 04 con chung đã trưởng thành nguyên đơn không có yêu cầu gì, nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung chưa trưởng thành tên Đặng Thành Đ, sinh ngày 19/10/2015 và Đặng Thành Đ1, sinh ngày 19/10/2015, không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con chung đồng thời nguyện vọng của 02 trẻ là mong muốn sống chung với bà H sau khi ly hôn nên Hội đồng xét xử xét giao 02 trẻ Thành Đ và Thành Đ1 cho nguyên đơn bà H trực tiếp nuôi dưỡng là có cơ sở. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn bà H không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn: Bà H xác định tự thỏa thuận tài sản chung, ông Đ không đến Tòa, không gửi ý kiến về vụ án cho Tòa án, do vậy Hội đồng không xem xét về tài sản chung, nếu có tranh chấp thì giải quyết bằng vụ kiện khác.
Xét về nghĩa vụ dân sự chung: Bà H xác định không có nghĩa vụ dân sự chung, ông Đ không đến Tòa, không gửi ý kiến về vụ án cho Tòa án, do vậy Hội đồng không xem xét, nếu có tranh chấp thì giải quyết bằng vụ kiện khác.
Về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm: Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, Hội đồng xét xử xét cần buộc nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 51, 56, 57, 58, 82, 83, 84, 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 6, 7, 26, 30, 31, 32 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014); Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:
- Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Bích H là được ly hôn ông Đặng Ngọc Đ.
Giấy chứng nhận kết hôn số 69/2014, quyển số 01 ngày 18/7/2014 do Ủy ban nhân dân xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Đặng Ngọc Đ và bà Trần Thị Bích H không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Giao 02 con chung chưa trưởng thành tên Đặng Thành Đ, sinh ngày 19/10/2015 và Đặng Thành Đ1, sinh ngày 19/10/2015 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng.
Người không trực tiếp nuôi con chung không cấp dưỡng nuôi con chung. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung: Không xem xét trong vụ án này.
- Về nghĩa vụ dân sự chung: Không xem xét trong vụ án này.
- Về án phí sơ thẩm: bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tiền số 0020467 ngày 26/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Củ Chi.
Thời hạn kháng cáo đối với bản án này là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND huyện Củ Chi; - Chi cục THADS huyện Củ Chi; - Ủy ban nhân dân xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh; - Các đương sự; - Lưu VP, Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Châu Trinh |