vanban.org

Bản án 75

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lê Tiến T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
Tßa ¸n nh©n d©n
QuËn Thanh xu©n
Thµnh phè Hµ Néi
-------------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B¶n ¸n sè: 75/2018/ HS-ST
Ngµy: 20/6/2018

Nh©n danh

N íc céng hßa x· héi chñ nghÜa ViÖt Nam

Tßa ¸n nh©n d©n QuËn Thanh Xu©n

Thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:

- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Phƣơng Thảo

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Chu Thị Tuyết

Bà Nguyễn Thị Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hƣơng- Cán bộ Tòa án nhân dân quận T, T phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T, T phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lê Hƣng Thái- Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 20 tháng 6 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận T, T phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 70/2018/TLST-HS ngày 21.5.2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2018/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Tiến T; Sinh ngày 22 tháng 01 năm: 1994 tại: Hà Nội; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số 5 L, phường C, quận Đ, T phố Hà Nội; Chỗ ở: số 5 L, quận Đ, T phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Lê Tiến Khánh và con bà: Nguyễn Thị Thủy; Vợ: Nguyễn Hương L; có 01 con sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ 24 tháng 01 năm 2018, tạm giam từ ngày 02.02.2018 tại Trạm giam số 2 – Công an T phố Hà Nội.

* Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Nguyễn Hƣơng L, sinh năm 1990

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số 5 L, quận Đ, T phố Hà Nội;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

a) Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Khoảng 18 giờ ngày 24.01.2018, tổ công tác công an phường N làm nhiệm vụ trên địa bàn. Khi đến trước số 70 ngõ 1 Q, phường N, quận T, T phố Hà Nội phát hiện Lê Tiến T điều khiển xe máy Biển kiểm soát: 29P1- 56663 có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện trên tay trái của T đang cầm 01 (một) túi nilon bên trong có 05 (năm) viên nén hình tròn màu hồng, trên mặt mỗi viên có logo chữ LV lồng vào nhau và 01 (một) túi nilon bên trong có chứa các hạt tinh thể màu nâu. T tự khai nhận hai túi nilon trên đựng ma túy tổng hợp dạng ketamine và thuốc lắc là của T cất giấu nhằm mục đích để bán kiếm lời nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện bắt giữ. Tổ công tác đưa T cùng toàn bộ tang vật về trụ sở để giải quyết.

Cơ quan công an thu giữ:

- 01 (một) túi nilon kích thước khoảng 2x3cm trong có đựng 05 (năm) viên nén hình tròn màu hồng, trên các viên nén có dập chìm chữ “LV” lồng vào nhau.

- 01 (một) túi nilon kích thước khoảng 2x3cm trong có chứa hạt tinh thể màu nâu.

- 01 (một) điện thoại Nokia 206 màu đen. Số imei: 359196053636885;

- 01 (một) xe mô tô mang nhãn hiệu Honda Vision màu đen mang biển kiểm soát: 29P1- 56663; số máy: JF66E0614304; số khung: RLHJF5815GY614373.

Theo kết quả giám định số 998/KLGĐ-PC54 ngày 01.02.2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an T phố Hà Nội kết luận:

- 05 (năm) viên nén màu hồng, logo “LV”, khối lượng 1,651 gam là ma túy loại MDMA.

- Tinh thể màu nâu bên trong túi nilon, khối lượng 0,780 gam là ma túy loại Ketamine.

Tại cơ quan điều tra, Lê Tiến T khai nhận: Do bản thân nghiện ma túy, không có nghề nghiệp nên khoảng ngày 17.01.2018, T nảy sinh ý định mua ma túy về bán để kiếm lời. Qua các mối quan hệ xã hội, T biết tại ngã tư Ngụy Như Kon Tum- Nguyễn Tuân, phường N, quận T, T phố Hà Nội có người đàn ông bán ma túy. Sau đó, T đến đây mua 4.000.000 đồng ma túy rồi mang về nhà cất giấu. Đến khoảng 18 giờ 10 phút ngày 24.01.2018, T điều khiển xe máy biển kiểm soát: 29P1- 56663 đến ngõ 1 Q, phường N, quận T, T phố Hà Nội với mục đích tìm khách để bán số ma túy trên kiếm lời. Khi đến trước số nhà 70 thì bị tổ công tác công an phường Nkiểm tra phát hiện, bắt giữ.

b) Về các vấn đề khác của vụ án:

Đối với người đàn ông bán ma túy cho T, T khai không biết tên, tuổi, địa chỉ của người đàn ông này nên cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ.

Quá trình điều tra xác định chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đen mang biển kiểm soát: 29P1- 56663; số máy: JF66E0614304; số khung: RLHJF5815GY614373 là của chị Nguyễn Hương L (sinh năm 1990; trú tại: số 5 L, C, Đ, Hà Nội), chị L là vợ của T. T khai đã mượn chiếc xe trên của chị L với mục đích sử dụng để đi bán ma túy. Khi mượn xe, T không nói cho chị L biết mục đích của T để đi bán ma túy. Chị L đã xuất trình đầy đủ giấy tờ chứng minh chiếc xe trên là tài sản hợp pháp của mình. Khi cho T mượn xe, chị L không biết T sử dụng xe để nhằm mục đích đi bán ma túy. Chị L có đơn xin lại xe nên cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho chị L, chị L đã nhận lại chiếc xe trên và không có yêu cầu gì khác (bút lục 78-83).

Tại bản cáo trạng số 73/CT-VKS ngày 16.5.2018, Viện kiểm sát nhân dân quận T, T phố Hà Nội đã truy tố Lê Tiến T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay,

Bị cáo Lê Tiến T khai: bản thân bị cáo là người nghiện ma túy nên để có tiền sử dụng, bị cáo đã nghĩ ra việc mua ma túy để bán lại cho các con nghiện kiếm lời. Ngày 24.1.2018, bị cáo đã có hành vi tàng trữ 5 viên nén hình tròn màu hồng là MDMA và hạt tinh thể màu nâu là Ketamine ma túy để bán lại cho các con nghiện kiếm lời nhưng chưa kịp bán thì bị công an bắt quả tang. Đây là lần đầu tiên bị cáo mua bán ma túy. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật và ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét ®Ó cho bÞ c¸o ® îc h ëng møc ¸n nhÑ nhÊt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T, T phố Hà Nội tham gia phiên tòa có quan điểm: giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Tiến T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015: xử phạt bị cáo Lê Tiến T từ 36 tháng đến 40 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 251Bộ luật hình sự 2015; áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: tịch thu tiêu hủy 1,651 gam ma túy loại MDMA và 0,780 gam ma túy loại Ketamine; trả lại bị cáo chiếc điện thoại di động NOKIA do không liên quan đến hành vi phạm tội.

C¨n cø vµo c¸c tµi liÖu chøng cø ®· ® îc thÈm tra t¹i phiªn toµ; c¨n cø vµo kÕt qu¶ tranh luËn t¹i phiªn toµ, trªn c¬ së xem xÐt ®Çy ®ñ, toµn diÖn c¸c chøng cø, ý kiÕn cña KiÓm s¸t viªn…

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận T, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản phạm tội quả tang, biªn b¶n t¹m gi÷ ®å vËt tµi liÖu; Lời khai người làm chứng, Bản kết luận giám định... cã ®ñ c¬ së kh¼ng ®Þnh:

Ngày 24.01.2018, Lê Tiến T có hành vi tàng trữ 1,651 gam ma túy loại MDMA và 0,780 gam ma túy loại Ketamine tại trước số 70 ngõ 1 Q, phường N, quận T, T phố Hà Nội nhằm mục đích bán cho các con nghiện để kiếm lời, chưa kịp bán thì bị tổ công tác công an phường Nbắt quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật.

Hành vi của bị cáo Lê Tiến T đã đủ yếu tố cấu T tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 251, khoản 1 của Bộ luật hình sự 2015.

Viện kiểm sát nhân dân quận T, T phố Hà Nội truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Bị cáo nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình là trái pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự trị an trong xã hội và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bởi vì, ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm, khi sử dụng trái phép người sử dụng bị phụ thuộc hoàn toàn dẫn đến tha hóa đạo đức, lối sống, làm mất lý trí con người và là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Do tính chất nguy hiểm của nó nên nhà nước đã thống nhất quản lý và có nhiều biện pháp tuyên truyền, giáo dục về tác hại cũng như vai trò quản lý của nhà nước đối với chất gây nghiện này. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vì lợi ích cá nhân vẫn cố ý thực hiện. Do vậy, cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, nghiêm khắc với bị cáo, cách L bị cáo khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo T khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, bị cáo phạm tội lần đầu là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Do đó, cũng giảm một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có việc làm ổn định, không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015:

Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo 01 chiếc điện thoại NOKIA. Tại phiên tòa bị cáo khai chỉ sử dụng chiếc điện thoại để liên lạc với gia đình. Do vậy, trả lại bị cáo chiếc điện thoại di động NOKIA do không liên quan đến hành vi phạm tội.

Tịch thu tiêu hủy 1,651 gam ma túy loại MDMA và 0,780 gam ma túy loại Ketamine.

Án phí và quyền kháng cáo:

BÞ c¸o ph¶i chÞu ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm. Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy ®Þnh cña ph¸p luËt.

V× c¸c lÏ trªn;

QuyÕt ®Þnh

1. Tuyên bố bị cáo Lê Tiến T phạm tội “Mua bán trái phép chấp ma túy”

2- Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; Điều 106; Điều 135, 136; 331, 332, 333, 336, 337 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Áp dụng: Điều 251 khoản 1; Điều 51 khoản 1 điểm s và khoản 2 của Bộ luật hình sự 2015.

- Xử phạt bị cáo Lê Tiến T 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24.01.2018.

3. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

4. Xử lý vật chứng của vụ án:

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong dán kín bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Văn Hùng, cán bộ Công an phường N, Trần Đình Sơn, Phó trưởng công an phường N, giám định viên Đặng Văn Đạo, đương sự Lê Tiến T và đóng dấu của Công an phường N. Bên trong có 1,651 gam ma túy loại MDMA (đã lấy mẫu giám định) và 0,780 gam ma túy loại Ketamine.

Trả lại bị cáo Lê Tiến T 01 (một) điện thoại NOKIA 206 màu đen đã qua sử dụng, Imei1 359196053636885, lắp số thuê bao 01293545555 (hiện chiếc điện thoại trên không lên nguồn, không kiểm tra được tình trạng bên trong máy). Imei2: 3591960536368913.

Số vật chứng trên được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận T theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18.6.2018.

6. Án phí và quyền kháng cáo:

- Áp dụng: Điều 23; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo.

BÞ c¸o Lê Tiến T ph¶i chÞu 200.000 ®ång (Hai tr¨m ngh×n ®ång) ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm vµ cã quyÒn kh¸ng c¸o trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Hương L được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

¸n xö c«ng khai s¬ thÈm.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

Cỡ chữ