- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn D tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Tòa quyết gì? Về Tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 75/2025/HS-ST Ngày: 28/9/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Hưng và bà Nguyễn Thị Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Thủy, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Điện Biên tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Điện Biên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 64/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn D ( không có tên gọi khác), sinh ngày 07 tháng 01 năm 1989, tại tỉnh Điện Biên; Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: bản N, phường Đ, tỉnh Điện Biên ;nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn N, sinh năm 1960 và bà Lò Thị D, sinh năm 1963; Vợ, con: Quàng Thị L, sinh năm 1989 (Đã ly hôn) và có 01 người con sinh năm 2011; Tiền án: không; Tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 17/8/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 28/4/2022 chấp hành xong hình phạt tù, đã được xóa án tích. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/8/2025 đến ngày 15/8/2025 tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 06/8/2025 Lò Văn D đi bộ từ nhà ở bản N mục đích tìm mua Heroine để sử dụng cho bản thân. Khi đi đến khu vực Công viên D gặp và mua được của một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 30 tuổi (không biết tên, địa chỉ) 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng. Mua xong, D cầm gói ma tuý ở tay rồi đi bộ về. Hồi 11 giờ 45 phút cùng ngày, khi D đang đi bộ trên đường thuộc bản P thì bị tổ công tác Công an phường M phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trong lòng bàn tay trái D đang cầm 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột trắng nghi là Heroine.
Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng vật chứng này 6/8/2025 và tại Kết luận giám định số 792/KL-KTHS ngày 12/8/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Chất bột trắng thu giữ của Lò Văn D có khối lượng 0,24 gam là chất ma túy loại: Heroine, hoàn lại 0,19 gam.
Cáo trạng số: 57/CT-VKSKV2 ngày 15/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Điện Biên truy tố bị cáo: Lò Văn D về tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 ( sửa đổi bổ sung năm 2025) xử phạt bị cáo Lò Văn Du từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,19 gam Heroine ( còn lại sau giám định) và 01 mảnh giấy bạc màu trắng.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không bào chữa về hành vi, không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Xét hành vi của bị cáo thực hiện:
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 06/8/2025, Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định:
Hồi 11 giờ 45 phút ngày 06/8/2025, tại khu vực thuộc bản P, Lò Văn D có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,24 gam Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, làm ảnh hưởng đến trật tự, trị an, an toàn xã hội. Lò Văn D là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Nên đã phạm vào tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 ( sửa đổi bổ sung năm 2025)
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:
….
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
Như vậy, Cáo trạng viện kiểm sát đề nghị truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, không oan sai.
. Xét tính chất hành vi, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Hành vi mua tàng trữ 0,24 gam Heroine về sử dụng gây hại cho chính sức khỏe bản thân bị cáo và gây mất trật tự trị an xã hội bị nghiêm cấm, tính chất nghiêm trọng, xuất phát từ nguyên nhân nghiện chất ma túy, thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên mua tàng trữ, sử dụng dẫn đến phạm tội như ngày hôm nay.
Xét nhân thân thấy rằng bị cáo được gia đình cho ăn học hết lớp 9, sau đó ở nhà sản xuất, lao động tự do, nghiện ma túy từ năm 2019; ngày 17/8/2021 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân thành phố Đ xử phạt 01 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy bản án đã được xóa án tích nhưng nay lại tiếp tục có hành vi mua tàng trữ trái phép chất ma túy để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân cho thấy bị cáo là người có nhân thân xấu.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, có ông ngoại Lò Văn Ơ được nhà nước tặng thưởng Huân Chương kháng chiến đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[3]. Về hình phạt:
Hình phạt chính: Từ phân tích về hành vi phạm tội, tính chất hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo để tiếp tục cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo lao động tự do, thu nhập không ổn định, lại là đối tượng nghiện ma túy, khó có khả năng thi hành hình phạt bổ sung phạt tiền để thi hành án. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về vật chứng vụ án: Theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, vật chứng đã thu giữ của bị cáo cần xử lý như sau:
- Đối với 0,19 gam Heroine được hoàn lại sau khi giám định, đây là vật Nhà nước cấm mua bán, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 mảnh giấy bạc màu trắng là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí: Bị cáo bị kết án và không thuộc diện được miễn án phí hình sự sơ thẩm nên căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
. Về các vấn đề khác trong vụ án: Quá trình giải quyết vụ án bị cáo khai nguồn gốc số ma túy bị thu giữ mua của người đàn ông không biết tên, địa chỉ, nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về Tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 ( sửa đổi bổ sung 2025). Tuyên bố bị cáo Lò Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy). Xử phạt bị cáo 03 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/8/2025.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 0,19 gam Heroine (còn lại sau giám định) và 01 mảnh giấy bạc màu trắng.
(Vật chứng trên đã được miêu tả trong biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản vào hồi 17 giờ 0 phút ngày 15/9/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên và Phòng thi hành án dân sự khu vực 2, tỉnh Điện Biên).
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Căn cứ các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28/9/2025).
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 2 - Điện Biên; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; - Phân trại tạm giam M; - Phòng HSNV Công an tỉnh Điện Biên; - Phòng TTr, KT&THA, TAND tỉnh Điện Biên; - Công an tỉnh Điện Biên; - Thi hành án dân sự tỉnh Điện Biên; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Nga |