vanban.org

Bản án 75/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 0,1 gam Heroine đã giám định hết 0,05 gam, còn lại 0,05 gam Heroine vật chứng thu giữ của Vì Văn C. Vật chứng đã được niêm phong và bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 15 giờ 50 phút ngày 20/7/2022 giữa Cơ quan điều tra Công an…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn C và L phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 15 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2022/HS-ST
Ngày 16-8-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lường Văn Dũng.

2. Ông Vũ Xuân Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Cà Thị Phương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Ái, Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2022, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 79/2022/HSST ngày 22 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2022/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2022 đối với các bị cáo:

1- Họ và tên: Lầu A L (tên gọi khác: không), sinh năm 1978 tại huyện M, tỉnh Yên Bái; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: bản P, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: nông nghiệp; trình độ văn hóa: không; dân tộc: Mông giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lầu Sấu C (đã chết) và bà Thào Thị P (tên gọi khác: Thào Thị S) (đã chết); có vợ là Vàng Thị D, sinh năm 1983 và có 01 con, sinh năm 2000; tiền án: không, tiền sự: không; bị tạm giữ ngày 20/4/2022 đến ngày 23/4/2022 tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2- Họ và tên: Vì Văn C (tên gọi khác: không), sinh năm 1983 tại xã P, huyện Đ; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: bản C, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: nông nghiệp; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Khơ Mú; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vì Văn S (tên gọi khác: Vì Văn S), (đã chết) và bà Lò Thị K, sinh năm 1932; có vợ là Cút Thị K, sinh năm 1982 và có 02 con, con thứ nhất sinh năm 2006, con thứ hai sinh năm 2011; tiền án: không; tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 13/4/2022, đến ngày 22/4/2022 tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Lầu A L: Bà Lường Thị T, sinh năm: 1984 - Trợ giúp viên pháp lý của trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Vì Văn C: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm: 1992 - Trợ giúp viên pháp lý của trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 13/4/2022, tổ công tác Công an huyện Đ phối hợp với công an xã P làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực bản X, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên phát hiện bắt quả tang Vì Văn C cất giấu 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi Heroine trong người. Vì Văn C khai nhận gói chất bột màu trắng là Heroine, C mua của một người đàn ông tên L ở khu vực rừng thuộc bản X, xã P, huyện Đ với giá 30.000đ, mục đích mua Heroine về để sử dụng.

Căn cứ lời khai của Vì Văn C, ngày 20/4/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lầu A L, trú tại C, xã P, huyện Đ. Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Vì Văn C nhận dạng người đã bán ma túy cho C và xác định đúng là Lầu A L là người đã bán ma túy cho C vào sáng ngày 13/4/2022. Lầu A L cũng khai nhận nguồn gốc số ma túy mà L bán cho C là L mua của một người phụ nữ dân tộc Mông tên Vàng Thị M ở bản P, xã P vào ngày 12/4/2022 ở cuối bản P, xã P, huyện Đ.

Vật chứng vụ án thu giữ của bị cáo Vì Văn C: 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng đục dạng nén nghi Heroine. Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng hồi 18 giờ 15 phút ngày 13/4/2022 xác định số chất bột màu trắng đục thu giữ của Vì Văn C có khối lượng 0,1 gam, trích 0,05 gam gửi giám định. Tại bản kết luận giám định số: 541/KL-KTHS ngày 20/4/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận mẫu vật chứng trích gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine.

Quá trình điều tra cơ quan điều tra chưa làm rõ được người phụ nữ tên Vàng Thị M theo lời khai của bị cáo Lầu A L là người phụ nữ đã bán ma túy cho bị cáo.

Cáo trạng số: 55/CT-VKS-ĐBĐ ngày 20 tháng 7 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Lầu A L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Truy tố bị cáo Vì Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Lầu A L, Vì Văn C cả về tội danh và điều luật áp dụng. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lầu A L từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Vì Văn C từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy toàn 0,05 gam Heroine còn lại sau giám định.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

Tại phiên tòa, người bào chữa của bị cáo Lầu A L và Vì Văn C đều nhất trí với tội danh, điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố các bị cáo. Người bào chữa cho các bị cáo cũng nhất trí với phân tích về tình tiết giảm nhẹ, nhân thân mà đại diện Viện kiểm sát phân tích đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng cho các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất khung hình phạt, không áp dụng hình phạt bổ sung cho các bị cáo, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo. Riêng người bào chữa cho bị cáo Vì Văn C có lập luận đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo C với lập luận cho rằng bị cáo Vì Văn C đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong việc khai, nhận dạng người đã bán ma túy cho bị cáo giúp cơ quan điều tra bắt, khởi tố Lầu A L về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

Tranh luận với người bào chữa, kiểm sát viên thực hiện quyền công tố tại phiên tòa không nhất trí với đề xuất này của người bào chữa với lập luận sau: Việc bắt khởi tố được Lầu A L không chỉ dựa vào lời khai của bị cáo Vì Văn C mà bằng nhiều biện pháp điều tra khác cơ quan điều tra mới xác định và bắt được Lầu A L; lời khai của bị cáo Vì Văn C khai ra Lầu A L bán ma túy cho bị cáo là sự thành khẩn khai báo của bị cáo C đã được đại diện viện kiểm sát phân tích đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận gì thêm với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Xét về hành vi của các bị cáo Lầu A L, Vì Văn C thấy rằng:

Tại phiên tòa bị cáo Lầu A L khai nhận vào ngày 13/4/2022 đã có hành vi bán trái phép cho Vì Văn C 01 gói Heroine với giá 30.000đ. Bị cáo Vì Văn C cũng đã khai nhận có hành vi mua một gói Heroine của Lầu A L nhằm mục đích để sử dụng, chưa kịp sử dụng thì bị bắt giữ, gói ma túy Lú bán cho C có khối lượng 0,1 gam. Như vậy, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với Cáo trạng truy tố. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ khẳng định các bị cáo Lầu A L và Vì Văn C đều là những người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, mặc dù biết rõ tác hại của chất ma túy, biết được sự nghiêm cấm của pháp luật về hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng bị cáo Lầu A L vẫn cố ý mua sử dụng và bán lẻ, bị cáo Vì Văn C mua sử dụng là cố ý coi thường kỷ cương phép nước. Với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, gây mất ổn định trật tự trị an, an toàn xã hội. Bị cáo Lầu A đã bán trái phép 0,1 gam Heroine cho Vì Văn C nên đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Vì Văn C mua 0,1 gam Heroine để sử dụng đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự quy định: 1“ Người nào mua bán trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

Tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định: 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

“c. Heroine,Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Như vậy, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật là có căn cứ cần chấp nhận. Tại phiên tòa các bị cáo và người bào chữa cho các bị cáo đều nhất trí với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố, Tòa án đưa ra xét xử, không có ý kiến gì thêm.

Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy rằng:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Nguyên nhân phạm tội là do các bị cáo nghiện chất ma túy, từ nghiện chất ma túy nên mua sử dụng dẫn đến phạm tội ngày hôm nay, riêng bị cáo L ngoài mua về sử dụng bị cáo lại bán lẻ nên phạm tội mua bán trái phép chất ma túy.

Xét nhân thân các bị cáo thấy rằng bản thân các bị cáo đều nghiện chất ma túy, chưa có tiền án, tiền sự, sinh ra lớn lên tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ văn hóa thấp ( bị cáo C mới học lớp 1, bị cáo L không được đi học) nên nhận thức pháp luật có hạn chế.

Tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo không phạm các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Vì Văn C đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự cho bị cáo C. Hội đồng xử xử không chấp nhận, Hội đồng xét xử đồng ý với lập luận của đại diện Viện kiểm sát cho rằng việc bị cáo Vì Văn C khai ra Lầu A L là người đã bán ma túy cho C, góp phần vào việc cơ quan điều tra bắt, khởi tố bị cáo Lầu A L là một trong những lời khai thể hiện sự thành khẩn khai báo của cáo C đã được Viện kiểm sát đề xuất, hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo C.

Về hình phạt:

Hình phạt chính: Từ những phân tích các mục [1] và [2], Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cải tạo, giáo dục đồng thời cai nghiện để các bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự nhưng các bị cáo là người nghiện ma túy, thu nhập chỉ dựa vào làm ruộng, tài sản trong gia đình chỉ là những vật dụng thiết yếu do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo như đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa đã phân tích đề xuất.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về vật chứng vụ án:

0,1 gam Heroine đã giám định hết 0,05 gam, còn lại 0,05 gam Heroine thu giữ của Vì Văn C là chất thuộc Nhà nước cấm tàng trữ cấm lưu hành, cần tịch thu và tiêu hủy toàn bộ theo quy định điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[6] Về án phí: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, đang cư trú ở nơi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Tại phiên tòa các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử miễn án phí. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

Các vấn đề khác: Đối với người phụ nữ dân tộc Mông tên Vàng Thị M mà bị cáo Lầu A L khai đã bán ma túy cho bị cáo. Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xác minh Vàng Thị M hiện không có mặt tại địa phương nên chưa điều tra xử lý được, Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Lầu A L (tên gọi khác: không) phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Lầu A L 02 ( hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt ngày 20/4/2022.

2. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Vì Văn C (tên gọi khác: không) phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”: Xử phạt bị cáo Vì Văn C 01 ( một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 13/4/2022.

3. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 0,1 gam Heroine đã giám định hết 0,05 gam, còn lại 0,05 gam Heroine vật chứng thu giữ của Vì Văn C. Vật chứng đã được niêm phong và bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 15 giờ 50 phút ngày 20/7/2022 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đ.

4. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14. Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Lầu A L và Vì Văn C.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 16/8/2022)./.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ