vanban.org

Bản án 75/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/01/2026.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn H - Tàng trữ trái phép chất ma túy - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 - QUẢNG NINH
Bản án số: 75/2026/HS-ST
Ngày: 21/5/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vương Thị Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Hân và ông Hoàng Văn Hơn

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hồng Sơn, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 – Quảng Ninh

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Vĩ, kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 77/2026/TLST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2026/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2026, đối với bị cáo:

Bùi Văn H; tên gọi khác: không; sinh ngày 25/01/1983 tại Quảng Ninh; nơi thường trú: thôn H, xã H, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 06/12; con ông: Bùi Văn T và bà Lê Thị L; vợ: Dương Thị Á; con: có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 17/10/2011 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 07 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, ngày 26/7/2016 chấp hành xong hình phạt tù; bị cáo bị bắt quả tang ngày 15/01/2026, hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam M - Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt.

* Người làm chứng: Anh Bùi Văn N, sinh năm 1980.

Nơi thường trú: khu phố H, phường M, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

* Người chứng kiến: Anh Vũ Xuân T1, sinh năm 1963. Nơi thường trú: khu phố H, phường M, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

H sử dụng điện thoại của mình số 0966.216.512 gọi vào số điện thoại 0776.744.682 của một đối tượng tên là H1 (biệt hiệu là “Hoàng Bếch” nhưng không rõ lai lịch, địa chỉ) hỏi mua 300.000 đồng tiền ma tuý đá. H1 đồng ý và hẹn địa điểm giao dịch ở khu vực C thuỷ sản thuộc khu phố H, phường M, tỉnh Quảng Ninh. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, H đến điểm hẹn gọi điện cho H1 thì một lúc sau H1 đi xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu vàng không gắn biển số đến, H đưa tiền cho H1, thì H1 lái xe đi. Khoảng 20 phút sau, Hoàng điện lại cho H nói ma tuý cất trong vỏ bao thuốc lá màu xám và để ở gốc cây thứ 2 tại Khu Công nghiệp H (hướng đi từ cổng thủy sản đến khu công nghiệp H) để H tự đến lấy. Nghe H1 mô tả, H đến gốc cây lấy vỏ bao thuốc lá chứa ma túy rồi đi tìm chỗ để sử dụng.

Đến khoảng 13 giờ 15 phút cùng ngày, khi H đi đến khu vực cổng Khu Công nghiệp H, thuộc khu phố H, phường M, tỉnh Quảng Ninh, thì bị Tổ công tác Công an phường M phát hiện bắt quả tang. Vật chứng thu giữ của H gồm: thu trên tay H 01 vỏ bao thuốc mầu nâu - vàng, nhãn hiệu Black Owl, bên trong có 01 gói giấy kích thước (17,5 x 14) cm gói trong túi nilon màu trắng kích thước (4x3,5)cm, bên túi nilon có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy (ký hiệu M). Ngoài ra, còn thu giữ của H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu đen, số Imei 1: 352889110281698; Imei 2: 3528891101 99460, gắn 01 sim thuê bao số 0966.216.512 đã qua sử dụng.

Tại Bản kết luận giám định số 180/KLTHS ngày 20/01/2026, của Phòng K Công an tỉnh Q kết kuận: Mẫu vật kí hiệu M gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,273 gam.

Tại Bản kết luận giám định số 266/KLTHS ngày 29/01/2026, của Phòng K Công an tỉnh Q kết kuận: tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong mẫu nước tiểu ghi thu của Bùi Văn H.

Quá trình điều tra, Bùi Văn H khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Về nguồn gốc ma túy, H khai nhận mua của người đàn ông tên H1 không rõ lai lịch, địa chỉ.

Tại phiên toà, Bùi Văn H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng truy tố. Bị cáo bày tỏ thái độ ăn năn hối hận về hành vi của mình, đồng thời xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Người làm chứng Bùi Văn N vắng mặt tại phiên tòa có lời khai như sau:

Người chứng kiến anh Vũ Xuân T1 vắng mặt tại phiên tòa có lời khai trong hồ sơ vụ án như sau: vào hồi 13 giờ 15 phút ngày 15/01/2026, anh đi từ nhà đến khu vực cổng khu công nghiệp H thuộc khu phố H, phường M thì được Công an phường M mời chứng kiến việc phát hiện bắt quả tang Bùi Văn H có hành vi cất giấu trong 01 bao thuốc lá có 01 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng, H khai là ma túy đá, cất giấu để sử dụng. Tại Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an phường M 3 lập hồi 13 giờ 30 phút ngày 15/01/2026, tổ công tác Công an phường M 3 trong quá trình tuần tra kiểm soát tại khu vực khu Công nghiệp H, phát hiện Bùi Văn H có biểu hiện, qua kiểm tra, H giao nộp 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng, bên trong có 01 gói túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng, H khai là ma túy đá, cất giấu để sử dụng cho bản thân.

Tại Cáo trạng số 48/CT-VKSHH ngày 28/4/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh đã truy tố Bùi Văn H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, đề nghị xử phạt Bùi Văn H từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 15/01/2026. Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số 180/KL-KTHS ngày 20/01/2026 và 01 thẻ sim gắn trong điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu đen thu giữ của bị cáo H, tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone XR màu đen của Bùi Văn H sử dụng liên lạc phạm tội. Các bị cáo không có quan điểm tranh luận gì với lời luận tội của Viện kiểm sát, nói lời sau cùng, các bị cáo bày tỏ thái độ ăn năn hối cải, đồng thời xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: lời khai nhận tội của cả hai bị cáo tại phiên tòa cơ bản rõ ràng, phù hợp với lời khai của hai bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định: khoảng 13 giờ 15 phút ngày 15/01/2026, tại khu phố H, phường M, tỉnh Quảng Ninh, Bùi Văn H có hành vi cất giấu trái phép 0,273g (không phẩy hai bảy ba gam) ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng, thì bị Công an phát hiện, bắt giữ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân, phạm tội do lỗi cố ý. Do đó Hành vi nêu trên của Bùi Văn H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.

Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:

…

c) …, Methamphetamine,... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”...

Hội đồng xét xử thấy, Cáo trạng số 25/CT-VKSNQH-KV ngày 01/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh truy tố đối với Bùi Văn H là đúng người, đúng tội, lời luận tội có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy, chất gây nghiện của Nhà nước. Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhưng do buông lỏng bản thân, tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm sử dụng cho bản thân, thể hiện thiếu ý thức chấp hành pháp luật, do đó cần thiết phải xử lý nghiêm.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có 03 con nhỏ dưới 15 tuổi, 02 con bị mắc bệnh hiểm nghèo nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7] Về hình phạt đối với bị cáo: qua phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy, bị cáo đã từng có nhân thân xấu, năm 2011 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 07 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, tuy nhiên bị cáo không có ý thức rèn luyện, tu dưỡng bản thân mà còn tiếp tục phạm tội, do đó cần thiết cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục thành công dân có ích.

[8] Về vật chứng vụ án: quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã thu giữ:

- 0,273 gam ma túy loại methamphetamine, sau giám định hoàn lại 0,22 gam, là chất nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu đen thu giữ của Bùi Văn H là phương tiện phạm tội, cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

- 01 thẻ sim số 0966.216.512 gắn trong điện thoại di động nhãn hiệu IphoneXR màu đen của bị cáo H, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

[9] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, xét các bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định, hiện đang tạm giam nên không áp dụng hình phạt bổ sung với các bị cáo.

[10] Đối với đối tượng “Hoàng Bếch”, theo H khai là người sử dụng số điện thoại 0776.744.682 để liên lạc bán ma túy cho H vào trưa ngày 15/01/2026. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã nhiều lần gửi Công văn đến Công ty M để xác định chủ thuê bao số điện thoại 0776.744.682. Tuy nhiên đến nay, Công ty M chưa trả lời, nên không xác định được lai lịch, địa chỉ, do đó CQĐT tách hành vi tiếp tục làm rõ xử lý sau.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trước đó của H, quá trình điều tra xác định không đủ căn cứ khởi tố, xử lý theo Điều 256a BLHS, CQĐT đã chuyển Công an phường M, tỉnh Quảng Ninh để xử phạt hành chính.

[11] Về quyền kháng cáo: các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[12] Về án phí: theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.

Tuyên bố: bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Xử phạt: bị cáo Bùi Văn H

tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/01/2026.

3. Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 0,22 gam ma túy loại methamphetamine hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số 180/KL-KTHS ngày 20/01/2026 của Phòng K Công an tỉnh Q.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu đen.

- Tịch thu tiêu hủy 01 thẻ sim số 0966.216.512 gắn trong điện thoại di động nhãn hiệu IphoneXR màu đen.

(Các vật chứng nêu trên tình trạng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 102/2026/BB-THADSKV6 ngày 09 tháng 4 năm 2026 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Thi hành án dân sự khu vực 6 - Quảng Ninh). 4. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về chế độ thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý án phí, lệ phí Toà án: bị cáo Bùi Văn H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.

Về quyền kháng cáo: căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 331, khoản 1, khoản 3 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ