vanban.org

Bản án 75/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phùng Thị T.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phùng Thị T được ly hôn với anh Dương Văn N. Về con chung: Giao cháu Dương Anh Kiệt, sinh ngày 13/7/2016 và Dương Gia Bảo, sinh ngày 29/8/2020 cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục khi cháu Kiệt và cháu Bảo chưa thành niên, hoặc đã thành niên mà mất n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phùng Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 – GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2026/HNGĐ-ST
Ngày 04/8/2026
“V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con
chung”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Đặng Anh Việt.

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Nhàn và bà Lê Thị Cần.

- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Minh Chinh - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 8 – Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Linh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 tháng 8 năm 2026, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Gia Lai tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 190/2026/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2026/QĐST-HNGĐ ngày 16/7/2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phùng Thị T, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn 2 Ea Tir, xã Ea Khăl, tỉnh Đắk Lắk.

Vắng mặt tại phiên tòa. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Dương Văn N, sinh năm 1992; địa chỉ: Làng O Ngol, xã Ia Pia, tỉnh Gia Lai.

Vắng mặt tại phiên tòa. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Phùng Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phùng Thị T và anh Dương Văn N có trải qua thời gian tìm hiểu, sau đó tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã Ia Vê, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai (nay là xã Ia Pia, tỉnh Gia Lai) vào ngày 18/12/2015.

Sau khi kết hôn, chị T và anh N chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, cuộc sống vợ chồng không hòa thuận, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân một thời gian, vợ chồng không còn tình cảm, không quan tâm tới nhau. Nay xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng không còn khả năng hòa giải, tình cảm vợ chồng không còn nên chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N.

Về con chung: Chị T và anh N có 02 con chung tên: Dương Anh Kiệt, sinh ngày 13/7/2016 và Dương Gia Bảo, sinh ngày 29/8/2020.

Chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả cháu Kiệt và cháu Bảo cho đến khi các cháu thành niên và tự lập được. Chị T không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại bản tự khai, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bị đơn, anh Dƣơng Văn N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Dương Văn N và chị Phùng Thị T có trải qua thời gian tìm hiểu, sau đó tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã Ia Vê, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai (nay là xã Ia Pia, tỉnh Gia Lai) vào ngày 18/12/2015.

Sau khi kết hôn, anh N và chị T chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, cuộc sống vợ chồng không hòa thuận, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân một thời gian, vợ chồng không còn tình cảm, không quan tâm tới nhau. Nay xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng không còn khả năng hòa giải, tình cảm vợ chồng không còn nên chị T xin ly hôn, anh N nhất trí.

Về con chung: Anh N và chị T có 02 con chung tên: Dương Anh Kiệt, sinh ngày 13/7/2016 và Dương Gia Bảo, sinh ngày 29/8/2020.

Anh N đề nghị Tòa án giao cháu Kiệt và cháu Bảo cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu thành niên và tự lập được. Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Gia Lai:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Phùng Thị T và anh Dương Văn N là hợp pháp. Quá trình chung sống với nhau được một thời gian thì giữa chị T và anh N phát sinh mâu thuẫn. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm, nên chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N và anh N cũng nhất trí ly hôn với chị T. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T.

Về con chung: Chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Dương Anh Kiệt và Dương Gia Bảo cho đến khi các cháu thành niên và tự lập được. Anh N cũng nhất trí giao cháu Kiệt và cháu Bảo cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giao cháu Kiệt và cháu Bảo cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu thành niên và có khả năng lao động tự lập được.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Anh N cũng có ý kiến không cấp dưỡng nuôi con. Vì vậy không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc chị T phải chịu toàn bộ án phí ly hôn của vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Chị Phùng Thị T khởi kiện yêu cầu ly hôn và giải quyết nuôi con chung với anh Dương Văn N có địa chỉ tại: Làng O Ngol, xã Ia Pia, tỉnh Gia Lai. Vì vậy đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Gia Lai theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, chị Phùng Thị T và anh Dương Văn N đều có đơn xin xét xử vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ Luật tố tụng Dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phùng Thị T và anh Dương Văn N trải qua thời gian tìm hiểu, tiến tới hôn nhân và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ia Pia, tỉnh Gia Lai. Vì vậy, hôn nhân giữa chị T và anh N là hợp pháp theo đúng quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Quá trình chung sống với anh N, nhận thấy mâu thuẫn phát sinh trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, vợ chồng không còn tình cảm với nhau nên chị T khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với anh N. Anh N cũng thừa nhận mâu thuẫn giữa vợ chồng đã thực sự trầm trọng, vợ chồng không còn yêu thương nhau và nhất trí ly hôn với chị T. Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở để khẳng định mâu thuẫn giữa chị T và anh N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Năm.

Về con chung: Chị Phùng Thị T và anh Dương Văn N có 02 con chung tên: Dương Anh Kiệt, sinh ngày 13/7/2016 và Dương Gia Bảo, sinh ngày 29/8/2020.

Chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả cháu Kiệt và cháu Bảo. Xét thấy chị T có đủ điều kiện để nuôi dưỡng, đảm bảo sự phát triển toàn diện của cháu Kiệt và cháu Bảo, từ khi chị T và anh N sống ly thân đến nay, một mình chị T vẫn chăm sóc tốt cho cháu Kiệt và cháu Bảo, anh N cũng nhất trí giao cháu Kiệt và cháu Bảo cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Cháu Kiệt có nguyện vọng được sống cùng chị T. Do đó, cần giao cháu Kiệt và cháu Bảo cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Kiệt và cháu Bảo thành niên và tự lập được là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung và anh N cũng có ý kiến không cấp dưỡng nuôi con. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phùng Thị T và anh Dương Văn N đều không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Phùng Thị T là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ Luật tố tụng Dân sự;

- Các Điều 9, 19, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phùng Thị T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phùng Thị T được ly hôn với anh Dương Văn N.

2. Về con chung: Giao cháu Dương Anh Kiệt, sinh ngày 13/7/2016 và Dương Gia Bảo, sinh ngày 29/8/2020 cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục khi cháu Kiệt và cháu Bảo chưa thành niên, hoặc đã thành niên mà mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Anh Dương Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng quyền thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng.

3. Về án phí:

Buộc chị Phùng Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch về ly hôn để sung quỹ nhà nước, được khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà chị T đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004387, ngày 05/5/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai. Chị T đã nộp đủ án phí.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ Luật tố tụng Dân sự để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ