- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lâm Thị Ngọc A-Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Lâm Thị Ngọc A.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự đây; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự đây
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 75/2026/HNGĐ-ST Ngày 05-3-2026 V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Hòa.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Bích Liễu;
2. Ông Võ Quang Truyền.
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Vạn Thành, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Hải Yến, Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 667/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 29/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Lâm Thị Ngọc A, sinh năm 1990 (số Căn cước công dân xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 28/6/2021); địa chỉ thường trú: số nhà 74, hẻm số 10, đường A1, khu phố A2, phường A3, tỉnh Tây Ninh; địa chỉ hiện nay: số 93, hẻm số 59, đường Nguyễn Chí Thanh, khu phố A4, phường A5, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: ông Phùng Thanh B, sinh năm 1990 (số Chứng minh nhân dân xxxxxxxxx); địa chỉ thường trú: số nhà 74, hẻm số 10, đường B1, khu phố B2, phường B3, tỉnh Tây Ninh; địa chỉ hiện nay: số 36, đường B6, khu phố B4, phường B5, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 14 tháng 10 năm 2025 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – bà Lâm Thị Ngọc A trình bày:
Bà và ông Phùng Thanh B kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long Thành Bắc, huyện Hoà Thành (nay là phường Long Hoa), tỉnh Tây Ninh ngày 19/11/2011. Hôn nhân giữa bà và ông B là hôn nhân tự nguyện không bị ai ép buộc. Quá trình chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2017 thì vợ chồng ly thân cho đến nay nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, ông B không quan tâm, thiếu trách nhiệm, không chăm lo cho gia đình. Nay tình cảm hôn nhân giữa vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không còn hạnh phúc, vợ chồng không còn quan tâm lẫn nhau, do đó bà kiên quyết yêu cầu được ly hôn với ông Phùng Thanh B.
Về con chung: bà và ông B có 02 con chung tên Phùng Lâm Thảo C, sinh ngày 19/11/2012 và Phùng Lâm Khánh D, sinh ngày 21/6/2016. Bà yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung, không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: bà A khai không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án – bị đơn ông Phùng Thanh B đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng, triệu tập nhiều lần theo quy định nhưng ông B không cung cấp Văn bản trình bày ý kiến cũng như không đến Tòa án để làm việc.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lâm Thị Ngọc A và ông Phùng Thanh B; về con chung: giao 02 con chung tên Phùng Lâm Thảo C và Phùng Lâm Khánh D cho bà A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, ghi nhận bà A không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung đương sự khai không có nên không đặt ra giải quyết; về án phí tính theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
. Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: nguyên đơn – bà Lâm Thị Ngọc A khởi kiện yêu cầu ly hôn và yêu cầu giải quyết nuôi con chung với bị đơn – ông Phùng Thanh B, do bị đơn hiện tại đang cư trú tại phường Long Hoa, tỉnh Tây Ninh do đó căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” nên Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh thụ lý và giải quyết là đúng quy định của pháp luật.
. Về xét xử vắng mặt các đương sự: bị đơn – ông Phùng Thanh B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần tham gia phiên tòa nhưng ông B vắng mặt không lý do, nguyên đơn – bà Lâm Thị Ngọc A có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt do đó căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
. Về nội dung:
. Về quan hệ hôn nhân: bà Lâm Thị Ngọc A và ông Phùng Thanh B chung sống và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã xã Long Thành Bắc, huyện Hoà Thành (nay là phường Long Hoa), tỉnh Tây Ninh ngày 19/11/2011 nên hôn nhân giữa bà A và ông B là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Nguyên đơn - bà A trình bày, quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung thường hay cãi nhau, việc mâu thuẫn kéo dài nhiều năm từ năm 2017 và vợ chồng cũng đã ly thân từ đó đến nay, nay tình cảm vợ chồng không còn, không còn khả năng hàn gắn, nên bà A khởi kiện kiên quyết được ly hôn với ông B. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông B đến Tòa án nhưng ông B không đến Toà án làm việc, không tham gia hòa giải, không tham gia phiên tòa cũng như không có văn bản trình bày quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của bà A, cho thấy ông B không có thiện chí được đoàn tụ.
Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa bà A và ông B đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không có khả năng đoàn tụ; xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, do đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Lâm Thị Ngọc A đối với ông Phùng Thanh B theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
. Về con chung: bà A trình bày bà A và ông B có 02 con chung tên Phùng Lâm Thảo C, sinh ngày 19/11/2012 và Phùng Lâm Khánh D, sinh ngày 21/6/2016, bà A yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con, ông B không có ý kiến phản hồi, đồng thời tại Biên bản lấy lời khai ngày 28/11/2025 đối với cháu D và C, hai cháu đều mong muốn được sống cùng với bà A. Hội đồng xét xử xét thấy, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của hai cháu cũng như có xem xét đến nguyện vọng của hai cháu nên cần giao cháu D và C cho bà A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, ghi nhận bà A không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.
. Về tài sản chung, nợ chung: bà A khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: bà Lâm Thị Ngọc A phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Lâm Thị Ngọc A.
Bà Lâm Thị Ngọc A và ông Phùng Thanh B được ly hôn.
2. Về con chung: giao con chung tên Phùng Lâm Thảo C, sinh ngày 19/11/2012 và Phùng Lâm Khánh D, sinh ngày 21/6/2016 cho bà Lâm Thị Ngọc A trực tiếp trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận bà A không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.
Ông Phùng Thanh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: bà Lâm Thị Ngọc A phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí khởi kiện đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0008810 ngày 21/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh; ghi nhận bà A đã nộp xong.
5. Về quyền kháng cáo: các đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
6. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND Khu vực 10 – Tây Ninh; - Phòng THADS Khu vực 10 – Tây Ninh; - UBND cấp xã nơi đăng ký kết hôn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Mỹ Hòa |