vanban.org

Bản án 75/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Cao Xuân T.

[2]. Buộc anh Đào Duy Đ và chị Lê Thị L phải trả anh Cao Xuân T và chị Nguyễn Thị T1 tổng số tiền gốc và lãi là 941.250.000đ trong đó số tiền gốc 750.000.000đ, tiền lãi là 191.250.000đ. Kể từ khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành không thi hành số tiền trên thì p… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Cao Xuân T kiện đòi tài sản anh Đào Duy Đ"
  • Tòa quyết gì? [1]. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Cao Xuân T.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 Thành lập Tòa án nhân dân cấp…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8- HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2026/DS-ST
Ngày 05/8/2026
“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HẢI PHÒNG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán -Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hoài

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Mai Hoa và ông Nguyễn Quốc Nghị.

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Đức Thiên - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 8- thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quang Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân (viết tắt TAND) khu vực 8 - Hải Phòng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 265/2026/TLST-DS ngày 12/5/2026 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2026/QĐXXST - DS ngày 14/7/2026 và quyết định hoãn phiên tòa số 91/2026/QĐHPTST –DS ngày 27/7/2026 và số 97/2026/QĐHPTST-DS ngày 31/7/2026 của TAND khu vực 8 - Hải Phòng giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Cao Xuân T, sinh năm 1983; số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 05/01/2024. Cư trú tại: thôn H, phường A, thành phố Hải Phòng. (có mặt)

- Bị đơn: Anh Đào Duy Đ, sinh năm 1976; số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 09/8/2021 và chị Lê Thị L, sinh năm 1983; số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 28/6/2021. Đều cư trú tại: Thôn H, phường A, thành phố Hải Phòng. ( đều có mặt)

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1992; số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 09/8/2021. Cư trú tại: thôn H, phường A, thành phố Hải Phòng.(có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản ghi lời khai; nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều thống nhất trình bày: Ngày 22/3/2024, vợ chồng anh chị Thủy T2 cho vợ chồng anh chị Đức L1 vay số tiền 800.000.000đ, thời hạn vay 01 tháng, lãi suất 1,5%/tháng, lãi không kỳ hạn 2%/năm, khi cần lấy tiền gốc báo trước 10 ngày; hai bên có làm giấy biên nhận có tiêu đề giấy gửi tiền có chữ ký của anh Đ và chị L1. Các bên thống nhất không yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết. Ngày 05/10/2024, anh chị Đức L1 đã trả số tiền gốc 50.000.000đ và 34.000.000đ tiền lãi, từ đó đến nay chưa trả tiền gốc, lãi. Đến hạn trả nợ anh chị Đức Len không trả; anh chị Thủy T2 đã nhiều lần thông báo đòi nợ nhưng vẫn không trả vì vậy anh T đã khởi kiện đòi anh chị Đức L1 phải trả số tiền gốc 750.000.000đ, tiền lãi 1,5%/tháng tính từ 05/10/2024 đến ngày hai bên thống nhất chốt nợ ngày 08/7/2026 là 191.250.000đ. Tổng số tiền gốc và lãi là 941.250.000đ. Anh chị Thủy T2 yêu cầu trả một lần; anh chị Đức L1 đề nghị xin không trả lãi; số tiền gốc trả dần vì làm ăn khó khăn không thể trả một lần số tiền trên.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Các đương sự giữ nguyên ý kiến đã trình bày, thống nhất được số tiền nợ gốc và lãi theo biên bản chốt nợ ngày 08/7/2026.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) và các đương sự. Ý kiến về giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX: Căn cứ các Điều 463, 466; 470; 468, 469 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 147, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Buộc anh chị Đào Duy Đ và Lê Thị L trả anh chị Cao Xuân T, Nguyễn Thị T1 số tiền gốc 750.000.000đ, tiền lãi 191.250.000đ. Tổng số tiền gốc, lãi phải trả là 941.250.000đ.

Kể từ khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành không thi hành số tiền trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo khoản 2 Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự;

Về án phí: Anh Đào Duy Đ và chị Lê Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả anh Cao Xuân T số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng dân sự (hợp đồng vay tài sản); bị đơn cư trú tại Thôn H, phường A, thành phố Hải Phòng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND khu vực 8 – Hải Phòng, theo khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS), Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Toà án nhân dân và Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực, quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Toà án nhân dân cấp tỉnh;

[2]. Xem xét, đánh giá đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Mặc dù giấy vay tiền có tiêu đề ghi giấy gửi tiền nhưng các bên thừa nhận bản chất là giấy vay tiền; sau khi Tòa án thụ lý vụ án, các bên đã thống nhất chốt nợ ngày 08/7/2026 như sau: Anh chị Đức L1 vay nợ anh chị Thủy T1 số tiền gốc 750.000.000đ, tiền lãi 1,5%/tháng tính từ 05/10/2024 đến ngày 08/7/2026 số tiền lãi là 191.250.000đ. Tổng số tiền gốc và lãi là 941.250.000đ; việc thỏa thuận chốt nợ của các đương sự là tự nguyện, mức lãi suất thỏa thuận không vượt quá lãi suất quy định của Bộ luật dân sự. Do hai bên không thống nhất được phương thức trả nợ nên vụ án được đưa ra xét xử. Các đương sự đều thống nhất và công nhận nợ là tình tiết không phải chứng minh theo điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ chấp nhận. [3]. Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bị đơn phải chi ̣u án phí dân sự sơ thẩm. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 463, 466; 468, 469, 470 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 147, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Toà án nhân dân và Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực, quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Toà án nhân dân cấp tỉnh;

[1]. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Cao Xuân T.

[2]. Buộc anh Đào Duy Đ và chị Lê Thị L phải trả anh Cao Xuân T và chị Nguyễn Thị T1 tổng số tiền gốc và lãi là 941.250.000đ trong đó số tiền gốc 750.000.000đ, tiền lãi là 191.250.000đ.

Kể từ khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành không thi hành số tiền trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo khoản 2 Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự;

[3]. Về án phí sơ thẩm dân sự: Trả lại anh Cao Xuân T số tiền tạm ứng án phí 19.300.000đ (Mười chín triệu ba trăm nghìn đồng) theo biên lai ký hiệu số BLTU/26E, số 0005628 ngày 12/5/2026 tại Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Buộc anh Đào Duy Đ và chị Lê Thị L phải chịu số tiền 40.237.500đ (Bốn mươi triệu hai trăm ba mươi bẩy nghìn năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm. [4]. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 05/8/2026.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7A và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ