vanban.org

Bản án 75/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phạm Tiến N.

Buộc bà Nguyễn Ngọc Lan P có nghĩa vụ trả cho ông Phạm Tiến N số tiền vay còn thiếu gốc 283.000.000 đồng (Hai trăm tám mươi ba triệu đồng), không tính lãi. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Phạm Tiến Nhanh - T/c HĐ vay"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phạm Tiến N.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2026/DS-ST
Ngày: 20-4-2026
V/v tranh chấp hợp đồng
vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Bé Hương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Văn Vũ Biên Cương;

Bà Dương Thị Quyên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân Mai - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Trương Ngọc Oanh - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 02-4-2026 và ngày 20-4-2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp (Trụ sở 2) xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 523/2025/TLST-DS ngày 27 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 141/2026/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 3 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 161/2026/QĐST-DS ngày 02 tháng 4 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Phạm Tiến N, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Khóm M, phường H, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Nguyễn Ngọc Lan P, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Số nhà B, Phan Đình G, khóm E, phường H, tỉnh Đồng Tháp.

(Ông N có mặt tại phiên tòa; Bà P vắng mặt lần thứ hai không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Lời trình bày của nguyên đơn ông Phạm Tiến N: Ngày 27-8-2024 bà P có vay của ông N số tiền 283.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận, thời hạn ngày 10-9-2024 sẽ trả lại tiền gốc, vay có biên nhận. Trong quá trình vay bà P có trả lãi cho ông N số tiền là 15.000.000 đồng. Sau đó, không trả tiền gốc, lãi cho ông N nữa, ông N đã nhiều lần đến gặp bà P yêu cầu trả lại tiền gốc nhưng bà P không trả cố tình tránh né không gặp. Nên ông N yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Ngọc Lan P có nghĩa vụ trả cho ông Phạm Tiến N số tiền vay còn thiếu gốc 283.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn Nguyễn Ngọc Lan P: Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, cũng không có gửi văn bản ý kiến cho Tòa án.

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng, đầy đủ theo quy định của pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ khoản 2 Điều 92, điểm e khoản 1 Điều 192 BLTTDS; Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự 2015, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Tiến N, buộc bà Nguyễn Ngọc L P phải trả cho ông N số tiền vay còn nợ là 283.000.000 đồng, không tính lãi.

Không yêu cầu, kiến nghị khắc phục vi phạm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 12 – Đồng Tháp theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn Nguyễn Ngọc Lan P vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nên tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp quy định tại các điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Ông Phạm Tiến N yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Ngọc Lan P có nghĩa vụ trả cho ông N số tiền vay còn thiếu gốc 283.000.000 đồng, không tính lãi.

Xét thấy: Từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho bị đơn bà Nguyễn Ngọc Lan P và việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án đảm bảo đúng quy định của pháp luật nhưng bị đơn bà Nguyễn Ngọc L P không đến Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu của ông Phạm Tiến N cũng như không phản đối gì đối với yêu cầu của ông Phạm Tiến N nên yêu cầu của ông Phạm Tiến N là có đủ căn cứ để chứng minh theo quy định tại khoản 2, khoản 4 Điều 91 và khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Từ những phân tích trên chứng tỏ yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Tiến N là có căn cứ nên chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Tiến N, buộc bà Nguyễn Ngọc Lan P có nghĩa vụ trả cho ông Phạm Tiến N số tiền vay còn thiếu gốc 283.000.000 đồng, không tính lãi theo quy định tại các điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm: Tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án quy định: “Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận”. Trong vụ án này bị đơn bà Nguyễn Ngọc Lan P có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Phạm Tiến N số tiền 283.000.000đồng nên phải có nghĩa vụ chịu 5% x 283.000.000đồng = 14.150.000đồng án phí; Nguyên đơn không phải chịu án phí nên được nhận lại 7.075.000đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số: 0006119 ngày 27-10-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng phù hợp với nhận định nêu trên nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 5, 26, 35, 39, 91, 92, 144, 147, 227, 228, 271, 273, 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phạm Tiến N.

Buộc bà Nguyễn Ngọc Lan P có nghĩa vụ trả cho ông Phạm Tiến N số tiền vay còn thiếu gốc 283.000.000 đồng (Hai trăm tám mươi ba triệu đồng), không tính lãi.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguyễn Ngọc Lan P có nghĩa vụ chịu 14.150.000 đồng (Mười bốn triệu một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí.

Ông Phạm Tiến N không phải chịu án phí nên được nhận lại 7.075.000đồng (Bảy triệu không trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số: 0006119 ngày 27-10-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.

3. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 20-4-2026). Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ