- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm giao thông - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đồng Ngọc H phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| --------------- Bản án số:75/2025/HSST Ngày: 29/09/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Tự Hiếu
Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thế Ngọc và bà Nguyễn Thị Thu Hà.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Liên- Cán bộ Toà án nhân dân khu vực 11 – Hà Nội
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Tô Quốc Hải- Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 09 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 11- Hà Nội mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 66/2025/HSST ngày 19/09/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2025/QĐXXST- HS ngày 19/09/2025 đối với bị cáo:
* Họ và tên: Đồng Ngọc H, sinh năm 1977; Nơi cư trú và chỗ ở: Khối chế biến lâm sản X, phường Q, thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An nay là phường T, tỉnh Nghệ An, Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 5/12; Con ông: Đồng Ngọc B (đã chết); Con bà: Phan Thị T (đã chết); Vợ: Bùi Thị Việt P, có 02 con: Lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2009.
Theo danh chỉ bản số 692 ngày 19/06/2025 của Công an thành phố Hà Nộì lập và lý lịch địa phương cung cấp, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
(Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên toà)
* Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Vũ Minh Tiến- Công ty Luật hợp danh Thiên Nam- Đoàn luật sư thành phố Hà Nội
(Ông Tiến vắng mặt)
* Bị hại: Ông Lê Văn H1, sinh năm 1948 (Đã chết)
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Lê Văn T1, sinh năm 1974
Địa chỉ: Thôn C, xã N, huyện P, TP. Hà Nội nay là xã P, TP. Hà Nội
(Anh T1 vắng mặt)
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Sỹ N, sinh năm 1970
Địa chỉ: Khối Nghĩa Sơn, phường Quang Phong, thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An nay là phường Thái Hòa, tỉnh Nghệ An
(Anh N vắng mặt)
NHẬN THẤY
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 9 giờ ngày 17/11/2024, anh Nguyễn Sỹ N điều khiển xe ô tô BKS: 37H-012.63 chở Đồng Ngọc H đi từ bãi xe gần bệnh viện Nông Nghiệp, huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội, theo QL1A để về Nghệ An. Đến khoảng 09 giờ 30 cùng ngày, anh N điều khiển xe gần đến đoạn đèn xanh, đèn đỏ ngã 3 ga Thường Tín thì anh N mệt, xuống đi vệ sinh nên bảo H sang lái. Đến khoảng 09 giờ 55 phút cùng ngày, H điều khiển xe ô tô đi đến Km204 + 100 QL1A, địa phận xã Vạn Điểm, huyện Thường Tín, TP. Hà Nội theo hướng Hà Nội - Hà Nam, lúc này H thấy phía trước có xe ô tô con màu trắng (không rõ biển kiểm soát và người điều khiển), đang xi nhan để rẽ trái, nên H đạp phanh cho xe đi chậm lại, để nhường cho xe ô tô con rẽ trái sang đường. Khi chiếc ô tô này vừa rẽ trái sang đường, H quan sát phía trước và 2 bên gương chiếu hậu không thấy có phương tiện nào cản trở nên tiếp tục cho xe ô tô đi tiếp. Lúc này, ông Lê Văn H1 điều khiển xe mô tô BKS: 33N6-2494, đi cùng chiều phía bên phải trước đầu xe ô tô BKS: 37H-012.63 và rẽ trái sang đường hướng theo xe ô tô con màu trắng đi hướng lên phía trước đầu xe ô tô BKS: 37H-012.63 của H, do H thiếu chú ý quan sát gương cầu lồi bên trên phía trước đầu xe bên phải nên đã để phần ba đờ sốc xe ô tô BKS: 37H-012.63 va chạm vào phần ốp đuôi xe bên trái xe mô tô do ông H1 điều khiển, làm xe mô tô và ông H1 đổ ngã ra đường, bị xe ô tô do H điều khiển đẩy rê về phía trước khoảng 15m, khi mọi người dân đi đường hô lên thì H mới phanh dừng xe lại, H xuống xe thì mới phát hiện xảy ra tai nạn.
Hậu quả:
- Ông Lê Văn H1 tử vong tại hiện trường.
- Xe mô tô BKS:33N6-2494 bị hư hỏng nhẹ.
Tang vật thu giữ: 01 xe ô tô BKS: 37H-012.63 và 01 xe mô tô BKS: 33N6-2494.
Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện như sau:
Hiện trường xảy ra tai nạn là mặt đường QL1A, thuộc Km204+100 QL1A, địa phận xã Vạn Điểm, Thường Tín, Hà Nội. Tổ chức giao thông tại đây được chia làm 2 chiều xe chạy có vạch kẻ đứt màu vàng chia hai chiều xe chạy. Chiều Hà Nam đi Hà Nội rộng 4,75m, chiều Hà Nội đi Hà Nam rộng 4,8m. Mặt đường trải bê tông nhựa thẳng, phẳng. Hai bên đường là nhà dân ở, toàn bộ dấu vết vụ tai nạn đều nằm bên chiều Hà Nội đi Hà Nam.
Xác định mép đường chuẩn là mép đường bên phải hướng Hà Nội đi Hà Nam.
Xác định điểm mốc chuẩn là cột biển số P.106b, nằm bên phải đường chiều Hà Nam đi Hà Nội.
- Số 1 (Vết cà trượt) kích thước (5,1 x 0,01)m, có chiều hướng theo chiều Hà Nội – Hà Nam, đầu vết 1 và cuối 1 đo vào mép đường chuẩn lần lượt là 3,6m và 2,9m. Đo từ điểm mốc chuẩn song song QL1A đến đầu vết cà trượt 1 đo được là 1,6m.
- Số 2 (Vết trượt mô cơ thể) có diện (16,6 x 0,1)m, có chiều hướng Hà Nội – Hà Nam, điểm kết thúc nằm tại vị trí vai phải của nạn nhân, vết trượt nằm một phần dưới 4 bánh xe bên phải của xe ô tô tải BKS:37H-012.63. Đầu vết trượt và cuối vết trượt mô cơ thể đo vào mép chuẩn lần lượt là 2,7m và 3,2m. Đo từ đầu vết trượt 1 song song QL1A đến đầu vết cà trượt mô cơ thể 2, đo được là 3,5m.
- Số 3 (Vết cà trượt 2) kích thước (15 x 0,01)m. Có chiều hướng Hà Nội – Hà Nam. Đo từ đầu vết trượt 2 và cuối vết trượt 2 lần lượt đến mép chuẩn đo được là 3,25m và 3,8m. Đo từ đầu vết trượt mô cơ thể 2 đến đầu vết cà trượt 3 song song QL1A đo được là 2,4m.
- Số 4 (Vị trí xe ô tô BKS:37H-012.63). Đỗ trên đường QL1A, đo từ hình chiếu tâm trục bánh sau cung bên phải và hình chiếu tâm trục bánh trước bên phải, đo vào mép đường chuẩn lần lượt là 2,4m và 2,7m. Đo từ đầu vết cà trượt 3 đến hình chiếu tâm trục bánh sau cùng bên phải xe ô tô 37H-012.63 song song QL1A đo được là 5m.
- Số 5 (Vị trí xe mô tô 33N6-2494). Nằm trên đường QL1A, đầu xe hướng Hà Nam, nửa xe phía sau nằm dưới đầu xe ô tô tải. Đo từ hình chiếu tâm trục bánh sau và hình chiếu tâm trục bánh trước của xe mô tô đến mép đường chuẩn lần lượt là 3,5m và 4,5m. Đo từ hình chiếu tâm trục bánh sau cùng bên phải của xe ô tô tải đến hình chiếu tâm trục bánh sau xe mô tô số 5 song song QL1A đo được là 8m.
- Số 6 (Vị trí nạn nhân), nằm trên đường QL1A, đầu nạn nhân quay hướng Hà Nam, nạn nhân nằm sấp úp mặt xuống đường. Đo từ chân nạn nhân và đỉnh đầu nạn nhân vào mép đường chuẩn đo được lần lượt là 3,2m và 3m. Đo từ hình chiếu tâm trục bánh sau xe mô tô số 5 đến đầu nạn nhân song song QL1A đo được là 1,7m.
- Số 7 (Vùng vết máu) kích thước (1,95 x 0,3)m, bắt đầu từ đầu nạn nhân chảy ra đường, đo từ tâm vết máu vào mép đường chuẩn trung với điểm cuối vết trượt số 3, đo được là 3,8m. Đo từ đầu nạn nhân đến tâm vết số 7 song song QL1A đo được là 0,3m.
Tại bản Kết luận giám định số 9020/KL-KTHS ngày 26/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP. Hà Nội, kết luận:
Dấu vết, dấu vết va chạm, cơ chế hình thành dấu vết trên 02 phương tiện:
- Dấu vết trượt xước sơn, nhựa, bám dính chất màu xanh (dạng sơn) trên diện (15x3,5)cm ở mặt ngoài bên phải ba đờ sốc trước đầu xe ô tô biển kiểm soát: 37H-012.63, chiều hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải (Ảnh A3 => A6 - Bản ảnh giám định) phù hợp với dấu vết trượt xước mất sơn màu xanh, xước nhựa trên diện (6x3)cm ở mặt ngoài phía sau bên trái xe mô tô biển kiểm soát: 33N6 - 2494 (ốp đuôi xe, phía trên ốp đèn hậu), chiều hướng từ sau ra trước, từ phải sang trái (Ảnh B3 + B4 - Bản ảnh giám định).
- Dấu vết trượt xước nhựa, xước cong kim loại, xước cao su ở mặt ngoài bên phải xe mô tô biển kiểm soát: 33N6 - 2494 (đầu chắn bùn bánh trước, tay gương chiếu hậu, đầu tay phanh, đầu tay lái, bàn chân phanh, đầu bàn để chân trước, tay nâng yên xe, ống bô), chiều hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới (Ảnh B5 => B10 - Bản ảnh giám định) do va chạm với vật tày cứng (dạng mặt đường) tạo ra.
- Dấu vết còn lại trên 02 phương tiện không đủ yếu tố giám định.
Tại bản Kết luận giám định tử thi số: 1526/1560/KLGĐTT-TTPY ngày 28/11/2024 của Trung tâm pháp y Hà Nội, kết luận:
* Các kết quả chính:
- Kết quả khám nghiệm:
+ Rách da vùng cằm phải.
+ Sây sát da vùng mặt phải và vùng mũi.
+ Rách da vùng cung lông mày phải, mi trên mắt phải.
+ Rách da mi dưới mắt phải.
+ Bầm tím niêm mạc môi trên bên phải.
+ Bầm dập niêm mạc môi dưới.
+ Ngực phải mất vững.
+ Rách da vùng hõm ức.
+ Rách da 1/3 trong xương đòn trái.
+ Sây sát, rách da, lóc da vùng ngực phải, vai phải, cánh tay phải, khuỷu tay và cẳng tay phải.
+ Bầm tím da mặt sau vai phải và mặt sau cánh tay phải trên diện khoảng 32cm x 9cm. Trên vết bầm tím da này có 02 vết bầm tím da song song nhau ngang với trục của cơ thể kích thước 24cm x 0,5cm và 28cm x 0,5cm, cách nhau khoảng 4cm.
+ Sây sát da tay trái.
+ Sây sát da hai chân.
* Kết quả xét nghiệm, giám định khác:
- Kết quả giám định độc chất:
+ Mẫu máu của nạn nhân Lê Văn H1 giám định: Không tìm thấy Ethanol.
+ Mẫu máu của nạn nhân Lê Văn H1 giám định: Không tìm thấy các chất ma túy nêu trên.
* Kết luận:
Kết luận nguyên nhân chết: Do không mổ tử thi nên không kết luận được nguyên nhân chết.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐGTS ngày 19/05/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thường Tín kết luận: 02 (hai) gương chiếu hậu xe mô tô BKS:33N6-2494, đưa vào sử dụng ngày 14/06/2006 có giá: 200.000 đồng. Giá trị thiệt hại của tài sản: 200.000 đồng
Tại Cơ quan điều tra, Đồng Ngọc H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Về dân sự: Bị can Đồng Ngọc H và chủ xe là anh Nguyễn Sỹ N đã bồi thường cho người đại diện hợp pháp của nạn nhân Lê Văn H1 số tiền 110.000.000 đồng. Người đại diện cho nạn nhân đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu bồi thường gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị can Đồng Ngọc H.
Đối với xe mô tô BKS: 33N6-2494. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là tài sản hợp pháp của ông Lê Văn H1. Ngày 20/02/2025, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho anh Lê Văn T1 là người được gia đình ông H1 uỷ quyền. Anh T1 đã nhận lại xe và không có yêu cầu gì về thiệt hại của chiếc xe trên.
Đối với xe ô tô BKS: 37H-012.63. Quá trình điều tra xác định là của anh Nguyễn Sỹ N. Ngày 19/02/2025, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn Sỹ N chiếc xe trên. Anh N đã nhận lại xe và không có yêu cầu đề nghị gì.
Tại bản cáo trạng số 58/CT- VKSLB ngày 18/09/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Hà Nội truy tố bị cáo Đồng Ngọc H về hành vi “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự
Tại phiên toà:
- Bị cáo Đồng Ngọc H thành khẩn khai nhận tội, thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng và không kêu oan, chỉ mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin được cải tạo ngoài xã hội vì bị cáo là lao động chính trong gia đình.
- Người bào chữa cho bị cáo trình bày luận cứ với nội dung: Về tội danh và điều luật Viện kiểm sát viện dẫn là đúng quy định của pháp luật. Kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo hưởng án treo vì tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hồi cải, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu tiên phạm tội, bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị hại cũng có một phần lỗi khi chuyển hướng không đảm bảo an toàn. Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình, ngoài nghề lái xe bị cáo không có công việc nào khác để mưu sinh, đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo nhẹ hơn mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề xuất, không áp dụng hình phạt bổ sung và trả lại cho bị cáo H giấy phép lái xe để tiếp tục mưu sinh.
- Đại diện bị hại là anh Lê Văn T1 vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và có ý kiến: Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo H đã đến động viên tinh thần, thăm hỏi và đã bồi thường thỏa đáng nên không có yêu cầu gì thêm về dân sự. Đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, Hội đồng xét xử áp dụng điều 292 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh T1
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Sỹ N vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh không yêu cầu bị cáo H bồi thường về dân sự và có ý kiến đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H. Hội đồng xét xử áp dụng điều 292 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh N.
Đại diện Viện kiểm sát nhân khu vực 11- Hà Nội duy trì công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ.
Viện kiểm sát nhân khu vực 11- Hà Nội đề nghị như sau:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều Điều 65, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt Đồng Ngọc H 18 - 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 - 48 tháng.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng
Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe mang tên Đồng Ngọc H
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi tố tụng của Cơ quan CSĐT- Công an thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, đại diện bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Xét thấy lời khai của bị cáo Đồng Ngọc H tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của đại diện bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh, kết luận giám định cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Hà Nội.
Hội đồng xét xử có đầy đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ 55 phút ngày 17/11/2024, Đồng Ngọc H điều khiển xe ô tô BKS:37H-012.63 đi trên đường Quốc lộ 1A theo hướng Hà Nội - Hà Nam. Khi đi đến Km204 + 100 QL1A thuộc địa phận xã Vạn Điểm, huyện Thường Tín, TP. Hà Nội, lúc này H thấy phía trước có xe ô tô con màu trắng, đang xi nhan để rẽ trái nên H đạp phanh cho xe đi chậm lại, để nhường cho xe ô tô con rẽ trái sang đường. Khi chiếc ô tô này vừa rẽ trái sang đường, H quan sát phía trước và 2 bên gương chiếu hậu không thấy có phương tiện nào cản trở nên tiếp tục cho xe ô tô đi tiếp. Lúc này, ông Lê Văn H1 điều khiển xe mô tô BKS: 33N6-2494, đi cùng chiều phía bên phải trước đầu xe ô tô BKS: 37H-012.63 và rẽ trái sang đường theo hướng xe ô tô con màu trắng đi, hướng lên phía trước đầu xe ô tô BKS: 37H-012.63 của H, do H thiếu chú ý quan sát gương cầu lồi bên trên phía trước đầu xe bên phải nên đã để phần ba đờ sốc xe ô tô BKS: 37H-012.63 đã va chạm vào phần ốp đuôi xe bên trái xe mô tô do ông H1 điều khiển, làm xe mô tô và ông H1 bị đổ ngã ra đường và bị xe ô tô do H điều khiển đẩy rê cả người và xe của ông H về phía trước khoảng 15m, đến khi người dân hô lên thì H phanh dừng xe lại và xuống xe mới phát hiện xảy ra tai nạn. Hậu quả: ông Lê Văn H1 tử vong tại hiện trường. Hành vi của bị cáo H đã vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ.
. Hành vi của bị cáo H đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Do đó Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Hà Nội đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo H với tội danh “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Tuy nhiên cũng cần xác định, ông Lê Văn H1 cũng có một phần lỗi trong vụ tai nạn giao thông này khi chuyển hướng không đảm bảo an toàn, làm thiệt hại tính mạng của bản thân vi phạm Điều 15 Luật giao thông đường bộ
. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại về tính mạng, tài sản cho người tham gia giao thông do đó cần phải áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo, răn đe và đấu tranh phòng ngừa chung.
Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử xét thấy tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, đã bồi thường khắc phục toàn bộ hậu quả, đại diện bị hại có ý kiến đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Xét bị cáo Đồng Ngọc H có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu tiên bị đưa ra xét xử, phạm tội do vô ý, bị cáo là lao động chính trong gia đình nên không nhất thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và cũng không ảnh hưởng đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, phù hợp với quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 01/2022/NQ- HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao ngày 15/04/2022 thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là lao động chính trong gia đình, ngoài nghề lái xe bị cáo không còn nghề nghiệp nào khác nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đồng Ngọc H.
. Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu giải quyết do đó không xem xét.
. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo H 01 giấy phép lái xe hạng E số 400093016508 mang tên Đồng Ngọc H do Sở giao thông vận tải tỉnh Nghệ An cấp ngày 22/11/2021 khi án có hiệu lực pháp luật.
. Về án phí: Bị cáo Đồng Ngọc H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng mức hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, không áp dụng hình phạt bổ sung, về trách nhiệm dân sự và đề nghị xử lý vật chứng phù hợp với quy định của pháp luật.
Luật cứ bào chữa của người bào chữa cho bị cáo cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Đồng Ngọc H phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 01/2022/NQ- HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao ngày 15/04/2022
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106, Điều 135, Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Áp dụng Luật giao thông đường bộ.
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Xử phạt Đồng Ngọc H 20 (Hai mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 40 tháng (Bốn mươi) kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đồng Ngọc H về UBND phường Thái Hòa, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng
Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
Xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo H 01 giấy phép lái xe hạng E số 400093016508 mang tên Đồng Ngọc H do Sở giao thông vận tải tỉnh Nghệ An cấp ngày 22/11/2021 khi án có hiệu lực pháp luật.
Về án phí: Bị cáo Đồng Ngọc H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đại diện bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND TP HN; - VKSND khu vực 11 – Hà Nội - Phòng THADS khu vực 11 – Hà Nội - Thi hành án hình sự; - UBND phường Thái Hòa, tỉnh Nghệ An - Bị cáo; đại diện bị hại, NLQ - Lưu hồ sơ vụ án; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm Phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Tự Hiếu |