- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy". - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 48 (bốn mươi tám) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 75/2025/HS-ST Ngày 24-04-2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thanh Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quang Man và bà Nguyễn Thị Huê.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Ngân - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Nghĩa - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 04 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 57/2025/TLST-HS ngày 21/03/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2025/QĐXXST-HS ngày 11/04/2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn D, sinh năm 1994 tại Hà Nam; nơi cư trú: Tổ 6, phường L, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D và bà Trương Thị L; có vợ là Đinh Thị Thu H, sinh năm 1998 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2016; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 27/02/2018, Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng, chấp hành xong ngày 23/12/2022; nhân thân: Ngày 20/01/2012, Công an phường Lê Hồng Phong, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam quyết định xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 750.000đồng về hành vi: “Đánh bạc”. Ngày 21/04/2015, Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xử phạt 07 tháng tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; bị bắt, tạm giữ ngày 16/12/2024, tạm giam từ ngày 25/12/2024 đến nay; có mặt.
- Người làm chứng: Anh Vũ Quốc P, sinh năm 1990; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 15/12/2024, Nguyễn Văn D gọi điện cho Tạ Văn Lợi ở tổ dân phố Hồng Phú, phường Thanh Châu, thành phố Phủ Lý, D nói: “Để cho một triệu ba” thì Lợi hiểu ý D hỏi mua 1.300.000đồng ma túy nên đồng ý. Sau đó, D đến nhà Lợi thì được Lợi bán cho 22 viên ma túy hình tròn màu đỏ, D mang về cất giấu với mục đích ai hỏi mua thì bán. Khoảng 17 giờ cùng ngày có một người đàn ông khoảng 30 tuổi đến nhà gặp D hỏi mua 500.000đồng ma túy, D đồng ý bảo người này ra quán bia gần nhà D đứng đợi, sau đó D lấy 05 viên ma túy hình tròn màu đỏ quấn vào bên trong tờ giấy bạc màu trắng thành một gói nhỏ cầm ở tay trái rồi đi ra chỗ hẹn. Gặp người đàn ông, D nói: “Đưa tiền đây” thì người này lấy ra 500.000đồng đưa cho D. D cầm tiền của người đàn ông rồi định đưa gói ma túy cho người này nhưng chưa kịp đưa thì bị tổ công tác thuộc Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế, ma túy Công an thành phố Phủ Lý phối hợp với Công an phường Lê Hồng Phong, thành phố Phủ Lý đến kiểm tra hành chính. Thấy vậy, người đàn ông bỏ chạy thoát, tại chỗ D tự giác giao nộp cho lực lượng Công an 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa 05 viên nén hình tròn màu đỏ và khai nhận đó là gói ma túy cất giấu mục đích để đem bán cho người đàn ông không quen biết với giá 500.000đồng. Lực lượng Công an đã lập biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng theo quy định.
Vật chứng, tài sản thu giữ của vụ án gồm:
- Thu giữ tại chỗ: 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa 05 viên nén hình tròn màu đỏ được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu hồng và số tiền 500.000đồng.
- Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn D thu giữ 01 túi nilon màu trắng có kẹp nhựa viền màu đỏ, bên trong có chứa 03 viên nén hình tròn màu đỏ được niêm phong trong phong bì ký hiệu KX01.
Tại bản Kết luận giám định số 989/KL-KTHS ngày 23/12/2024, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận:“Mẫu viên nén trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,505gam, loại Methamphetamine. Mẫu viên nén trong phong bì ký hiệu KX01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,295gam, loại Methamphetamine”.
Bản Cáo trạng số 64/CT-VKS-PL ngày 20/03/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đã truy tố Nguyễn Văn D về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý thực hành quyền công tố Nhà nước giữ nguyên quan điểm không thay đổi, bổ sung nội dung đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn D, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 và khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 35, Điều 38, Điều 47 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Hình phạt chính: Xử phạt Nguyễn Văn D từ 42 tháng đến 48 tháng tù.
- Hình phạt bổ sung: Phạt tiền Nguyễn Văn D từ 01 triệu đồng đến 03 triệu đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
- Xử lý vật chứng của vụ án theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với người tham gia tố tụng là người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được Cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ của vụ án được thẩm tra tại phiên tòa như biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng; kết luận giám định về ma túy; lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, của người làm chứng; lý lịch tư pháp của bị cáo và các tài liệu khác trong hồ sơ của vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 15/12/2024, tại khu vực tổ 6, phường Lê Hồng Phong, thành phố Phủ Lý, Nguyễn Văn D bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế, ma túy Công an thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam bắt giữ quả tang đang bán trái phép 0,505gam chất ma túy loại Methamphetamine cho một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch với giá 500.000đồng. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn D thu giữ thêm 0,295gam chất ma túy loại Methamphetamine D cất giấu mục đích để bán kiếm lời. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
4.1. Về nhân thân: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; nhân thân xấu do có 01 tiền sự bị áp dụng biện pháp xử hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính; bản thân đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi:“Đánh bạc” và bị kết án phạt tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (đều đã được xóa án tích và đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính).
4.2. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định của Bộ luật Hình sự.
4.3. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội đã thực hiện nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt:
5.1. Hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mức độ nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và các chất gây nghiện trực tiếp là các hoạt động mua, bán, tàng trữ chất ma túy, gây mất trật tự, an toàn cho xã hội, làm nảy sinh tệ nạn ma túy là mầm mống, nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm. Vì vậy, cần có mức hình phạt nghiêm minh, tương xứng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm bị cáo đã thực hiện và nhân thân xấu của bị cáo mới có đủ tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật, đồng thời nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh ngăn chặn, phòng ngừa tội phạm.
5.2. Hình phạt bổ sung: Bị cáo thực hiện tội phạm với mục đích vụ lợi, kiếm lời bất chính. Do vậy, việc áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo bằng hình thức phạt tiền là cần thiết, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và hiệu quả răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
Về tình tiết khác của vụ án:
6.1. Đối với người đàn ông khoảng 30 tuổi theo bị cáo khai là người đã đưa số tiền 500.000đồng để mua ma túy của bị cáo, do quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh để làm rõ nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của người này, ngoài lời khai của bị cáo ra thì không còn có tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh nên không có căn cứ để xem xét, xử lý là có cơ sở.
6.2. Đối với Tạ Văn Lợi theo bị cáo khai là người đã bán cho bị cáo 22 viên ma túy loại Methamphetamine với giá 1.300.000đồng ngày 15/12/2024, quá trình điều tra do đã triệu tập Tạ Văn Lợi nhiều lần để đấu tranh làm rõ nhưng Lợi không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra xác định sẽ tiếp tục xác minh đối với Lợi khi nào có đủ căn cứ sẽ xem xét, xử lý theo quy định pháp luật là có cơ sở.
Về vật chứng và xử lý vật chứng của vụ án:
7.1. Đối với số tiền 500.000đồng thu giữ của bị cáo là tiền do bị cáo bán trái phép chất ma túy mà có nên tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.
7.2. Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu hồng, quá trình điều tra đã xác định là tài sản hợp pháp của bị cáo, được sử dụng để liên lạc, trao đổi về việc mua, bán trái phép chất ma túy nên là công cụ phạm tội, sẽ bị tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.
7.3. Đối với toàn bộ số Methamphetamine hoàn trả sau giám định cùng bao gói là vật Nhà nước quy định cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 và khoản 5 Điều 251, các Điều 35, 38, 47, 50, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các điều 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 48 (bốn mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 16/12/2024.
2. Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Nguyễn Văn D 5.000.000đồng (Năm triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.
3. Xử lý vật chứng:
3.1. Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước: 500.000đồng (Năm trăm nghìn đồng); 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màn hình cảm ứng màu hồng, có số IMEI1: 358860087398587/01, số IMEI2: 358861087398585/01 (điện thoại cũ đã qua sử dụng).
3.2. Tịch thu, tiêu hủy 02 (hai) phong bì niêm phong đều có số 989/KTHS, mặt trước các phong bì có ghi:“Mẫu vật hoàn trả QT01” và “Mẫu vật hoàn trả KX01”, mặt sau của các phong bì đều có chữ ký, đóng dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam.
Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Nam và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý ngày 21/03/2025; Ủy nhiệm chi số 234 lập ngày 31/03/2025 tại Kho bạc Nhà nước khu vực IV.
4. Án phí: Bị cáo Nguyễn Văn D nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - VKSND thành phố Phủ Lý; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Nam; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Hà Nam; - Chi cục THADS thành phố Phủ Lý; - Bị cáo Nguyễn Văn D; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Thanh Sơn |