vanban.org

Bản án 75/2025/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 26/03/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Huỳnh Trọng A 03 (ba) năm tù về tội “Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08 tháng 5 năm 2024.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại – bà Lê Thị Hoàng T2 không yêu cầu bồi thường nên không xem xét. Hoàn trả lại cho bị cáo số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang theo biên lai thu tiền số 0002555 ngày 07/11/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Trọng A - Đ145 - phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (điều 145 Luậ…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Huỳnh Trọng A 03 (ba) năm tù về tội “Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08 tháng 5 năm 2024.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 145 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NHA TRANG
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2025/HS-ST
Ngày 26 tháng 3 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Quỳnh Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Vinh

Bà Võ Thị Bời

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Giỏi Mạnh Phi – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, xét xử kín vụ án hình sự thụ lý số 432/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Huỳnh Trọng A, sinh ngày 22 tháng 3 năm 2003, tại: Khánh Hòa; nơi đăng ký thường trú: 1 đường N, phường T, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Huỳnh Trọng T, sinh năm 1977 và bà Trần Thị Thế O, sinh năm 1980;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08 tháng 5 năm 2024 đến nay; có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Đình T1 và ông Huỳnh Tuấn K – luật sư của Văn phòng luật sư Nguyễn Đình T1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh K. Ông T1 có mặt, ông K vắng mặt.

* Bị hại: Em Nguyễn Lê Trà M, sinh ngày 09/03/2009; trú tại: Tổ dân phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

* Đại diện hợp pháp của Nguyễn Lê Trà M:

- Ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1977, trú tại: Tổ dân phố P, thị trấn D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

- Bà Lê Thị Hoàng T2, sinh năm 1981, trú tại: Tổ dân phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Phạm Trân Nhật T3 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh K. Có mặt.

* Người làm chứng: Ông Ngô Đức N, sinh năm 1992. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thông qua trang mạng xã hội Facebook, Huỳnh Trọng A (tên facebook là “Phúc

Duy”

có

ID: https://www.facebook.com.profile.php?id=10003075119350) làm quen, gặp mặt, hẹn hò và nảy sinh tình cảm yêu thương với Nguyễn Lê Trà M, sinh ngày: 09/3/2009 (tên facebook là: “NGLTrM” có ID: https://www.facebook. com.profile.php?id=100081669707002), từ đó giữa Anh và M đã nhiều lần quan hệ tình dục cùng nhau, cụ thể:

- Lần 1: Khoảng 19 giờ ngày 28/9/2023 sau khi đi chơi cùng nhau, Anh chở M đến Nhà nghỉ N1, địa chỉ: 7 Đ, phường V, thành phố N thuê phòng và quan hệ tình dục. Khi quan hệ tình dục, Anh sử dụng bao cao su và xuất tinh bên ngoài, sau đó Anh và M đi về.

- Lần 2: Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 01/10/2023, Anh và M tiếp tục đến Nhà nghỉ N1 thuê phòng rồi quan hệ tình dục, A sử dụng bao cao su và xuất tinh bên ngòai.

- Lần 3: Khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 05/10/2023, A và M đến Nhà nghỉ T4, địa chỉ: B L, thị trấn D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa thuê phòng tại tầng trệt rồi quan hệ tình dục, A sử dụng bao cao su và xuất tinh bên ngoài.

- Lần 4: Sau khi đi câu cá tại đảo T, khoảng 18 giờ ngày 08/10/2023, A và M đến Nhà nghỉ H1, địa chỉ: A T, phường V, thành phố N thuê phòng để quan hệ tình dục. Do M đến kỳ kinh nguyệt nên M dùng miệng để quan hệ tình dục với A cho đến khi A xuất tinh ra bên ngoài.

- Lần 5: Khoảng cuối tháng 10/2023, A và M lại đến Nhà nghỉ N1 thuê phòng và quan hệ tình dục. Khi quan hệ tình dục, M dùng miệng cho đến khi A xuất tinh ra bên ngoài.

Đến ngày 03/11/2023 do M muốn chia tay nên chủ động chấm dứt liên lạc với Anh thì Anh điện thoại chửi bới, đe dọa M và bị chị Lê Thị Hoàng T2 (mẹ của M) phát hiện đưa đi khám chứng nhận thương tích, giám định xâm hại tình dục và làm đơn tố cáo.

Tại bản kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em số 18/24/KLTDTE-PYKH ngày 08/01/2024 của Trung tâm pháp y Sở Y kết luận:

- Tình trạng màng trinh: giãn, bờ tự do mất liên tục không hoàn toàn vị trí 12 giờ, tổn thương từ bờ tự do xuống khoảng 2mm chưa đến gốc màng trinh.

- Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 không quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể trong xâm hại tình dục nên không xác định tỷ lệ phần trăm thương tật. Tại Cáo trạng số 07/CT-VKSNT ngày 23/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Huỳnh Trọng A về tội “Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 145; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Trọng A từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu nên không xem xét

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo Huỳnh Trọng A khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Người bào chữa cho bị cáo đề nghị xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất dưới khung hình phạt vì bị cáo đã thành khẩn khai báo, đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 30.000.000đ nộp tại Cơ quan thi hành án dân sự; gia đình bị cáo có công với cách mạng, bị cáo có nhân thân tốt.

- Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường, không nhận tiền bồi thường do bị cáo nộp và đề nghị xét xử bị cáo theo đúng quy định của pháp luật.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trình bày: Bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường, không nhận tiền bồi thường nên đề nghị hội đồng xét xử xem xét và xét xử bị cáo mức hình phạt theo đúng quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại – ông Nguyễn Ngọc H và người làm chứng vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Căn cứ vào các Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, Kiểm sát viên đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Trọng A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đủ cơ sở kết luận:

Thông qua mạng xã hội facebook, Huỳnh Trọng A và Nguyễn Lê Trà M quen biết, gặp mặt và có tình cảm nam nữ yêu thương nhau. Từ ngày 28/9/2023 đến cuối tháng 10/2023, Huỳnh Trọng A đã 03 lần thực hiện hành vi giao cấu và 02 lần thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với Nguyễn Lê Trà M (sinh ngày 09/3/2009) khi M mới hơn 14 tuổi nhưng chưa đủ 16 tuổi tại các nhà nghỉ N1, địa chỉ: 7 Đ, phường V, thành phố N; nhà nghỉ H1, địa chỉ: A T, phường V, thành phố N và nhà nghỉ T4, địa chỉ: B L, thị trấn D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, danh sự, nhân phẩm, sự phát triển bình thường về tâm, sinh lý của trẻ em trong độ tuổi từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; đồng thời ảnh hưởng tiêu cực đến thuần phong mỹ tục, truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp trong xã hội. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên, xét thấy quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại số tiền 30.000.000đ nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang; ông ngoại bị cáo là liệt sỹ; bản thân bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng hồ sơ vụ án thể hiện bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại. Tại phiên tòa đại diện hợp pháp của bị hại – bà Lê Thị Hoàng T2 không yêu cầu bồi thường, không đồng ý nhận tiền bồi thường của bị cáo nên hoàn trả lại cho bị cáo số tiền 30.000.000đ bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang theo biên lai thu tiền số 0002555 ngày 07/11/2024.

Đối với hành vi đăng tải ảnh nhạy cảm của Nguyễn Lê Trà M lên mạng xã hội, bị cáo không có mục đích chiếm đoạt tài sản hay xúc phạm danh dự nhân phẩm của M nên chưa đủ cơ sở xem xét trách nhiệm hình sự.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 145; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Huỳnh Trọng A 03 (ba) năm tù về tội “Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08 tháng 5 năm 2024.

2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại – bà Lê Thị Hoàng T2 không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

Hoàn trả lại cho bị cáo số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang theo biên lai thu tiền số 0002555 ngày 07/11/2024.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Bị cáo Huỳnh Trọng A phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại – bà Lê Thị Hoàng T2 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại – ông Nguyễn Ngọc H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ