- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình Ly hôn, nuôi con chung"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 75/2025/HNGĐ - ST Ngày 29 - 7 - 2025 V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình “Ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên Tòa: Bà Nguyễn Thị Chuyên Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Chi
2. Ông Huỳnh Hoàng Nam
- Thư ký phiên Tòa: Bà Huỳnh Thị Phượng là thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5
- An Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - An Giang: Bà Trần Thúy An - Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 198/2025/TLST- HNGĐ, ngày 24 tháng 3 năm 2025 vụ tranh chấp hôn nhân và gia đình “Ly hôn, nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 476/2025/QĐXXST- HNGĐ, ngày 27 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Bùi Văn V, sinh năm: 1986; địa chỉ: ấp C, xã L, huyện G, tỉnh Kiên Giang (Nay là ấp C, xã L, tỉnh An Giang).
2. Bị đơn: Chị Đặng Kim H, sinh năm: 1989; địa chỉ: ấp C, xã L, huyện G, tỉnh Kiên Giang (Nay là ấp C, xã L, tỉnh An Giang).
(Anh V có mặt, chị H vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 25/2/2025 và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Bùi Văn V trình bày:
Anh và chị H trước khi lấy nhau có tìm hiểu trước và chung sống với nhau vào năm 2013 (không tổ chức lễ cưới) có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện G, tỉnh Kiên Giang vào ngày 09/4/2019. Sau khi cưới cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được 06 năm thì phát sinh mâu thuẫn, sống không còn hòa hợp. Vợ chồng không còn chung sống với nhau từ năm 2020 cho đến nay. Anh thấy cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, hôn nhân không thể tiếp tục duy trì được nên anh V yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H.
Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung tên Bùi Hữu D - sinh ngày 30/10/2015, hiện cháu D đang sống cùng với anh, anh yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; Về tài chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Đặng Kim H đã được Tòa án tống đạt các thủ tục tố triệu tập lấy lời khai, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng như sau: Quá trình thụ lý vụ án, chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử, Tòa án tiến hành đúng theo quy định của pháp luật, xác định đúng quan hệ tranh chấp, đương sự trong vụ án và tiến hành các thủ tục tố tụng đúng pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự tại phiên tòa hôm nay đối chiếu với các quy định của pháp luật, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng nhận thấy như sau:
Về hôn nhân anh V và chị H tự nguyện đến với nhau, có đăng ký kết hôn vào ngày 09/4/2019 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Trong quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Xét thấy tình trạng hôn nhân của anh chị không thể tiếp tục duy trì được nữa. Đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh V; Về con chung: Anh, chị có 01 con chung, hiện cháu đang ở với anh V, anh yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng không yêu cầu cấp dưỡng. Tòa án đã tống đạt thông báo cho chị H nhưng chị H không thể hiện ý kiến về việc anh V yêu cầu được nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh V, giao cháu D cho V tiếp tục nuôi dưỡng, anh V không cầu cấp dưỡng nên chị H không phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết; Về án phí: Anh V phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng:
{1.1} Về thẩm quyền: Anh Bùi Văn V yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình “Ly hôn, nuôi con chung” giữa anh và chị H. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực nên Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng trình tự, thủ tục tố tụng.
{1.2}Về sự có mặt của đương sự: Chị H là bị đơn đã được Tòa án tống đạt các thủ tục tố tụng; nhưng chị không có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án và cũng không tham gia phiên công khai chứng cứ, phiên hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Xét thấy việc vắng mặt của chị H không làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với chị H.
[2]. Về nội dung:
{2.1} Về hôn nhân: Anh Bùi Văn V và chị Đặng Kim H trước khi lấy nhau có tìm hiểu trước và chung sống với nhau vào năm 2013 (không tổ chức lễ cưới). Anh chị có đến Ủy ban nhân dân xã L, huyện G, tỉnh Kiên Giang đăng ký kết hôn vào ngày 09/4/2019 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống vợ chồng không tự hòa giải được những mâu thuẫn dẫn đến cãi vã, vợ chồng chung sống đến năm 2020 thì ly thân. Anh V đã nhiều lần yêu cầu chị H về sống chung nhưng chị H không chịu về sống cùng với anh V. Xét thấy hôn nhân của anh chị phải được xây dựng trên cơ sở lâu dài bền vững, vợ chồng quan tâm chăm sóc lẫn nhau và cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Đối với chị H, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý về việc anh V yêu cầu được ly hôn; nhưng chị H không có ý kiến gì về việc anh V yêu cầu ly hôn. Hội đồng xét xử thấy rằng hôn nhân của anh V và chị H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Xử chấp nhận cho anh Bùi Văn V được ly hôn với chị Đặng Kim H.
{2.2} Về con chung: Anh, chị có 01 người con chung tên Bùi Hữu D - sinh ngày 30/10/2015, hiện nay cháu D đang ở với anh V. Tòa án tống đạt thông báo về việc anh V yêu cầu được tiếp tục nuôi con không yêu cầu chị H cấp dưỡng; nhưng chị H cũng không có ý kiến gì về việc anh V yêu cầu nêu trên. Mặt khác, tại bản tự khai cháu D có nguyện vọng sau khi cha mẹ ly hôn, cháu yêu cầu được ở với cha. Do đó, áp dụng khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; giao cháu D cho anh V trực tiếp nuôi dưỡng. Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người đang trực tiếp nuôi con. Vì lợi ích của con khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con, xem xét yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, hoặc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
{2.3} Về cấp dưỡng nuôi con: Việc cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Anh V không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
{2.4} Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[3] Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng áp phí lệ phí Tòa án:
Án phí ly hôn sơ thẩm anh V phải nộp là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà anh V đã nộp theo biên lai thu tiền số 0013044 ngày 24/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng (nay là phòng thi hành án khu vực 5 - An Giang). Anh V đã nộp đủ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng áp phí lệ phí Tòa án:
1. Về hôn nhân: Xử chấp nhận cho anh Bùi Văn V được ly hôn với chị Đặng Kim H.
2. Về con chung: Xử giao cháu Bùi Hữu D - sinh ngày 30/10/2015 cho anh Bùi Văn V trực tiếp nuôi dưỡng, anh V không yêu cầu cấp dưỡng nên chị H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người đang trực tiếp nuôi con. Vì lợi ích của con khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con, xem xét yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, hoặc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết
4. Về án phí ly hôn sơ thẩm anh V phải nộp là 300.000 đồng; nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà anh V đã nộp theo biên lai thu tiền số 0013044 ngày 24/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng (nay là phòng thi hành án khu vực 5 - An Giang). Anh V đã nộp đủ.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định là 15 ngày; Anh V được tính kể ngày tuyên án (ngày 29/7/2025). Chị H được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết của Tòa án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh, cùng cấp; - Phòng thi hành án; - Đương sự; - UBND xã; - Lưu hồ sơ, Vp | TM. Hội đồng xét xử sơ thẩm Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký tên và đóng dấu) Nguyễn Thị Chuyên |