vanban.org

Bản án 75/2024/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ninh Kiều, TP. Cần Thơ Tuyên án 21/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04-02-2024. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NINH KIỀU
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2024/HS-ST
Ngày: 21-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Bà Trần Thị Dung.

- Bà Nguyễn Thị Mai Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 70/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 410/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Quang V, sinh ngày 27-7-1996 tại Cần Thơ. Nơi cư trú: Số H, tổ B, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (sống) và bà Lê Thị Huỳnh H (sống); bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Chưa; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 04-02-2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận N (có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Tiền Hùng C. Địa chỉ: Khu V L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt).

+ Bà Nguyễn Thị Diễm . Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang. (vắng mặt).

- Người chứng kiến:

Ông Lê Tấn P. Địa chỉ: Số B đường T, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ ngày 03-02-2024, bị cáo Nguyễn Quang V đi đến khu vực cổng chào của huyện M, tỉnh Vĩnh Long để mua 01 gói ma túy đá với giá 250.000 đồng của đối tượng tên T1 (không rõ họ tên, địa chỉ). Mua được ma túy, bị cáo cất giấu gói ma túy trong vỏ gói thuốc lá hiệu Jet và để trong túi đeo màu nâu rồi quay về cửa hàng nhôm kính - nơi bị cáo làm thuê ở thị trấn C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, bị cáo về Cần Thơ thì Tiền Hùng C (bạn làm chung) xin đi nhờ xe về Cần Thơ, bị cáo đồng ý. Đến khoảng 00 giờ ngày 04-02-2024, khi bị cáo điều khiển xe đến trước số A, đường C, phường H thì dừng lại để mua thuốc lá, lúc này có lực lượng Công an đến yêu cầu khám xét, qua khám xét phát hiện, thu giữ trong túi đeo màu nâu bị cáo đeo trên người có 01 gói nilon không màu nẹp miệng viền xanh, chứa tinh thể không màu, bị cáo thừa nhận là ma túy bị cáo mua để sử dụng riêng nhưng chưa kịp sử dụng. Lực lượng Công an đã lập biên bản thu giữ gói nilon chứa tinh thể không màu cùng những vật chứng sau:

- 01 xe mô tô hiệu Exciter, biển số 95H-477.04, đã qua sử dụng;

- 01 điện thoại di động hiệu Oppo A57, số Imei: 86994506785777, sim số: 0931.865931, đã qua sử dụng, thu của Nguyễn Quang V;

- 01 vỏ gói thuốc lá hiệu Jet; 01 túi đeo màu nâu;

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A20S, số seri: R9AMB2C5X25, sim số: 0939.918373, đã qua sử dụng, thu của Tiền Hùng C.

Tại Kết luận giám định số: 41/KL - KTHS ngày 07-02-2024 của Phòng K - Công an thành phố C, kết luận: Tinh thể không màu trong gói nilon gửi giám định, là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0, 3319 gam.

Đối với Tiền Hùng C, qua điều tra xác định C chỉ đi nhờ xe của bị cáo để về thành phố Cần Thơ, việc bị cáo cất giấu ma túy trong người, C không biết. Tuy nhiên, qua kiểm tra, C có kết quả dương tính với ma túy nên Công an quận N đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Tiền Hùng C về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy; ngoài ra, Cơ quan điều tra đã trả lại cho C 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A20S, số seri: R9AMB2C5X25, sim số: 0939.918373.

Đối với người tên T1 - bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo khai không biết họ tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý.

Xác minh xe mô tô hiệu Exciter, biển số 95H-477.04 do bà Nguyễn Thị D đứng tên chủ sở hữu (làm thuê cùng chỗ làm của V) bà D cho V mượn xe về Cần Thơ thăm nhà, việc V sử dụng xe có mang theo ma túy trong người bà D không biết. Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô trên cho bà D.

Cáo trạng số 85/CT-VKSNK ngày 24-4-2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều truy tố bị cáo Nguyễn Quang V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (viết tắt BLHS 2015).

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo theo tội danh và điều khoản như nội dung cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS 2015 tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 BLHS 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để xử lý vật chứng:

+ Tịch thu tiêu hủy: Gói niêm phong số 41/KL-KTHS ngày 07-02-2024 của Phòng K - Công an thành phố C; 01 túi đeo màu nâu đã qua sử dụng.

+ Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Oppo A57, sim số 0931.865931, đã qua sử dụng.

+ Ghi nhận Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận N đã trả lại cho bà Nguyễn Thị D 01 xe mô tô hiệu Exciter biển số 95H-477.04.

+ Ghi nhận Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận N đã trả lại cho ông T2 Hùng Cường 01 điện thoại di động hiệu S A20S, sim số 0939.918373.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, bị cáo không tranh luận với Viện kiểm sát về tội danh và hình phạt. Lời nói sau cùng bị cáo nhận thức được hành vi sai trái, ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, thành phố Cần Thơ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người chứng kiến không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án vì trong hồ sơ đã có đủ lời khai của họ nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với kết luận điều tra, phù hợp với nội dung bản cáo trạng, với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có cơ sở kết luận:

Vào khoảng 21 giờ ngày 03-02-2024 bị cáo Nguyễn Quang V đi đến khu vực cổng chào của huyện M, tỉnh Vĩnh Long để mua 01 gói ma túy đá với giá 250.000 đồng của đối tượng tên T1 (không rõ họ tên, địa chỉ). Mua được ma túy, bị cáo cất giấu gói ma túy trong vỏ gói thuốc lá hiệu Jet và để trong túi đeo màu nâu rồi quay về cửa hàng nhôm kính - nơi bị cáo làm thuê ở thị trấn C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, bị cáo về Cần Thơ thì Tiền Hùng C (bạn làm chung) xin đi nhờ xe về Cần Thơ, bị cáo đồng ý. Đến khoảng 00 giờ ngày 04-02-2024, khi bị cáo điều khiển xe đến trước số A, đường C, phường H thì dừng lại để mua thuốc lá, thì bị lực lượng Công an đến yêu cầu khám xét, thu giữ trong túi đeo màu nâu bị cáo đeo trên người có 01 gói nilon không màu nẹp miệng viền xanh, chứa tinh thể không màu.

Căn cứ vào vật chứng đã thu giữ của bị cáo, căn cứ vào Kết luận giám định số 41/KL-KTHS ngày 07-02-2024 của Phòng K - Công an thành phố C xác định: Tinh thể không màu trong gói nilon gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,3319 gam nên hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015.

Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên thuộc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015; tình tiết này là căn cứ để xem xét giảm nhẹ mức hình phạt dành cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,3319 gam mục đích để sử dụng cá nhân là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an ở địa phương, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội khác. Bị cáo đã trưởng thành, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết tác hại của ma túy đối với bản thân, nhận thức được hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Do vậy, hành vi này cần có mức hình phạt tương xứng, có như vậy mới giúp bị cáo tâm đắc sửa đổi bản thân, biết sống đặt mình trong khuôn khổ pháp luật, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội. Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với toàn bộ diễn biến hành vi bị cáo thực hiện.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích sử dụng cá nhân nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với ông Tiền Hùng C, việc bị cáo mua ma túy và tàng trữ ma túy để sử dụng ông C không biết nên không đề cập xử lý.

Đối với người tên T1 - bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo khai không biết họ tên, địa chỉ, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ nên không đề cập xử lý.

Về xử lý vật chứng:

+ Đối với chất Methamphetamine còn lại sau giám định trong gói niêm phong số 41/KL-KTHS ngày 07-02-2024 của Phòng K - Công an thành phố C là chất cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

+ 01 túi đeo màu nâu đã qua sử dụng là vật bị cáo dùng để cất giấu ma túy không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

+ 01 điện thoại di động hiệu Oppo A57 sim số 0931.865931, đã qua sử dụng là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.

+ Ghi nhận Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận N đã trả lại cho bà Nguyễn Thị D 01 xe mô tô hiệu Exciter biển số 95H-477.04 và đã trả lại cho ông T2 Hùng Cường 01 điện thoại di động hiệu S A20S, sim số 0939.918373 nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS 2015

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04-02-2024.

Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

- Tịch thu tiêu hủy: Gói niêm phong số 41/KL-KTHS ngày 07-02-2024 của Phòng K - Công an thành phố C có trọng lượng Methamphetamine còn lại sau giám định; 01 túi đeo màu nâu đã qua sử dụng.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Quang V: 01 điện thoại di động hiệu Oppo A57 sim số 0931.865931, đã qua sử dụng.

(Vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự quận N đang quản lý – Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25-4-2024).

3. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo được quyền kháng cáo. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ