vanban.org

Bản án 75/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 28/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: B cáo Phan Văn M 07 (bảy) năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy . Thời hạn tù tính từ ngày 19/7/2023.

Miễn hình phạt bổ sung cho b cáo. Buộc b cáo nộp lại số tiền 1000.000 (một triệu) đồng, tiền thu lợi bất chính sung vào ngân sách Nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Phan Văn Mai - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: B cáo Phan Văn M 07 (bảy) năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy . Thời hạn tù tính từ ngày 19/7/2023.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2024/HS-ST
Ngày 28-3-2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Dương Văn Quí.

2. Bà Nguyễn Th im i n.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trọng Hưng, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hiếu - iểm sát vi n.

Trong ngày 28 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 70/2024/T ST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2024 theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số 76/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2024 đối với b cáo:

Họ và t n: Phan Văn M; giới tính: Nam; sinh năm 1958 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: 42/2 ấp Đ, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc t ch: Việt Nam; dân tộc: inh; tôn giáo: hông; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Chạy xe ôm; con ông: Phan Văn B (chết) và bà: Phạm Th (chết); Vợ: Trần Th Mỹ 1 (có 02 (hai) con, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 1995); Tiền án, tiền sự: hông;

B cáo b tạm giữ chuyển tạm giam từ ngày 19/7/2023 tại Nhà tạm giữ Công an huyện H cho đến nay; (có mặt tại phi n tòa).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Bà Trần Th Mỹ 1, sinh năm 1971; Đ a chỉ: 4 ấp Đ, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

2. Ông Trần Ngọc T, sinh năm 1985; Thường trú: 211/2/37/1 đường T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 5 ấp M, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phi n tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

úc 12 giờ 30 ngày 19/7/2023, tại trước số E tổ E, ấp N, xã B, huyện H, Tổ công tác thuộc Đội CSĐTTP về Ma túy phối hợp Công an xã B tuần tra phát hiện bắt quả tang Phan Văn M đang có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Trần Ngọc T (SN 1985; Nơi thường trú: 211/2/37/1 đường T, phường T, quận T, thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 5 ấp M, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh). Thu giữ tr n tay trái của M 02 đoạn ống hút chứa chất bột màu trắng.

ết luận giám đ nh 7885/ - THS ngày 26/7/2023 của Phòng K công an thành phố H cho kết quả như sau:

- Bột màu trắng trong 02 đoạn ống nhựa là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0939g, loại Heroin.

Tại Cơ quan điều tra Phan Văn M khai nhận làm nghề xe ôm quanh khu vực bến xe A n n có tiếp xúc với các đối tượng nghiện. Do đó, M nảy sinh ý đ nh và bắt đầu bán heroin từ 10/7/2023 đến 19/7/2023 thì b bắt.

Nguồn ma túy M mua của một người thanh ni n (không rõ lai l ch) ở khu vực bãi đất trống trước khu vực bến xe A. Mỗi khi cần mua, M đứng đợi 10-15 phút sẽ có người thanh ni n ra bán. Sau đó, M mang về bán kiếm lời, và hưởng lợi mỗi tép 30.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính 1.000.000 đồng. hoảng 11 giờ ngày 19/7/2023, trong lúc M đang ở nhà thì nhận được điện thoại của Trần Ngọc T hỏi mua 02 tép heroin với giá 200.000 đồng. M đồng ý bán và hẹn giao ma túy trước quán nước mía, đ a chỉ: 5 tổ E, ấp N, xã B, huyện H. Sau đó, M điều khiển xe máy ra trước bãi đất trống trước bến xe A mua của một thanh ni n (không rõ lai l ch) 02 tép với giá 140.000 đồng (01 tép giá 70.000 đồng) cầm tr n tay trái rồi điều khiển xe chạy đến điểm hẹn với T. hi đến nơi, M nhìn thấy T nhưng chưa k p giao ma túy thì b Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ tr n tay trái của M 02 tép heroin như tr n.

M khai nhận ngoài lần b bắt quả tang, đã bán cho T 02 lần nữa, lần 1: vào lúc 09 giờ 00 phút ngày 18/7/2023 M bán cho T 02 tép Heroin với giá 200.000 đồng. ần 2: úc 09 giờ 00 phút ngày 19/7/2023 M bán cho T 02 tép Heroin với giá 200.000 đồng nhưng T chỉ đưa M 180.000 đồng (do trong thời gian chờ M đến, T đã mua nước mía uống hết số tiền 20.000 đồng). Tất cả hai lần tr n M bán ma túy cho T cũng tại đ a điểm bắt quả tang như tr n.

ết quả test ma túy M: âm tính.

*Vật chứng thu giữ của M:

- 02 đoạn ống hút chứa chất bột màu trắng; 01 xe máy biển số 79 2-9566; 01 điện thoại di động hiệu ACE; Tiền Việt nam 320.000 đồng.

*Vật chứng thu giữ của T:

- T4 là 200.000 đồng; 01 điện thoại di động đã qua sử dụng.

*Đối với xe máy biển số 79 2-9566; có số máy VTMDA152FMHA-001619; số khung RRTVCHCCX61002029 (số khung , số máy nguy n thủy):

Qua xác minh chủ sở hữu là Nguyễn Thành T1 (SN 1982, đ a chỉ: T, Cam Hải T2, Cam R) mua năm 2006. Đến 2013 bán cho một người không rõ lai l ch, không làm giấy tờ mua bán. Do đã bán n n T1 không có y u cầu gì. Phan Văn M khai xe máy tr n là do vợ là Trần Th Mỹ 1 mua để M chạy xe ôm. Trần Th Mỹ 1 khai nhận mua xe máy tại cửa hàng xe máy cũ tại khu vực A (Không rõ t n của hàng, đ a chỉ). hi mua không làm giấy tờ mua bán. Việc M lấy xe đi giao ma túy thì L1 không biết.

Tại bản Cáo trạng số 67/CT-VKSHHM ngày 26/02/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố b cáo Phan Văn M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy theo quy đ nh tại điểm b khoản 2 Điều 252 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phi n tòa trình bày lời luận tội giữ nguy n quyết đ nh truy tố và đề ngh :

- Tuy n bố b cáo Phan Văn M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy ;

- p dụng b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, đề ngh xử phạt b cáo Phan Văn M mức hình phạt từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù.

Vì b cáo hoàn cảnh khó khăn, là người cao tuổi n n không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với b cáo.

- Về vật chứng thu giữ đề ngh Hội đồng xét xử:

* T ch thu ti u hủy:

- 01 (một) gói ni m phong ghi vụ 1567/23 (7885), b n ngoài có dấu vân tay màu đỏ ghi t n Phan Văn M (người b bắt) và hình dấu Công an xã B, huyện H b n trong là ma túy còn lại sau giám đ nh.

* T ch thu sung vào ngân sách Nhà nước:

- 01(một) điện thoại di động hiệu ACE đã qua sử dụng;

- 01(một) điện thoại di động đã qua sử dụng;

- Tiền việt nam: 520.000 (năm trăm hai mươi nghìn) đồng.

- Đối với 01 (một) xe gắn máy biển số: 79 2-9566; có số máy: VTMDA152FMHA-001619; số khung: RRTVCHCCX61002029 chưa xác đ nh được chủ sở hữu hợp pháp đề ngh giao cho Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hóc Môn thông báo tìm kiếm chủ sở hữu theo quy đ nh pháp luật, hết thời hạn không ai đến nhận thì t ch thu sung ngân sách Nhà nước.

- Buộc b cáo nộp lại 1000.000 (một triệu) đồng là tiền thu lợi bất chính trong vụ án.

(Vật chứng theo Bi n bản giao, nhận đồ vật tài liệu, vật chứng ngày 27/02/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn).

Người có quyền lợi nghĩa vụ li n quan bà Trần Th Mỹ 1 đề ngh được trả lại chiếc xe găn máy là vật chứng trong vụ án vì b cáo dùng xe vào việc phạm tội bà hoàn toàn không biết.

B cáo không có ý kiến tranh luận với Viện kiểm sát và trong lời nói sau cùng b cáo đã ăn năn, hối cải về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho b cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:

Tr n cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phi n tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh như sau:

[1] Về hành vi, quyết đ nh tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra vi n, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, iểm sát vi n trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy đ nh của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phi n tòa, b cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại. Vì vậy, các hành vi, quyết đ nh tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Điều tra vi n, iểm sát vi n đã thực hiện là hợp pháp.

[2]. Tại phi n tòa, b cáo Phan Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi mua bán trái phép chất ma túy b cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện H phát hiện bắt quả tang thu giữ cùng vật chứng; nội dung b cáo khai nhận phù hợp với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố.

Đối chiếu lời khai nhận của b cáo Phan Văn M tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và lời khai qua xét hỏi công khai tại phi n tòa phù hợp với nhau và phù hợp với: Bi n bản bắt người phạm tội quả tang, các bi n bản (tạm giữ đồ vật - tài liệu; ni m phong và mở ni m phong vật chứng; đối chất), lời khai của người chứng kiến, người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan đến vụ án; cùng các tài liệu, bi n bản về hoạt động tố tụng khác của Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu thập có tại hồ sơ vụ án.

Vật chứng là ma túy thu giữ của b cáo trong vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết đ nh trưng cầu giám đ nh, kết quả được thể hiện tại bản ết luận giám đ nh số: 7885/ - THS ngày 26/7/2023 của Phòng K, Công an Thành phố H (bút lục số: 60).

Đã có đủ cơ sở để kết luận: Với động cơ tư lợi bất chính, b cáo Phan Văn M, đã nảy sinh ý đ nh bán heroin cho người nghiện ma túy tại khu vực b n xe A để thu lợi. hoảng 12 giờ 30 phút ngày 19/7/2023, tại trước số 57/5/ tổ E, ấp N, xã B, huyện H, Tổ công tác thuộc Đội CSĐTTP về Ma túy phối hợp Công an xã B tuần tra phát hiện bắt quả tang Phan Văn M đang có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Trần Ngọc T, vật chứng thu giữ là 0,0939g ma túy ở thể rắn, loại Heroin. Trước đó, M đã bán ma túy cho T 02 lần vào ngày 18/7/2023 và 19/7/2023. T3 lợi bất chính từ việc bán ma túy là 1.000.000 đồng.

Như vậy, với khối lượng các chất ma túy ở thể rắn b thu giữ dùng để mua bán, cất giấu trái phép nhằm mục đích mua bán b thu giữ trong vụ án, và những lần mua bán trái phép chất ma túy vào các ngày 18/7/2023 và 19/7/2023 được cơ quan tiến hành tố tụng điều tra chứng minh trong vụ án và hành vi n u tr n của các b cáo, có cơ sở xác đ nh:

- B cáo Phan Văn M phải ch u trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép các chất ma túy ở thể rắn b bắt quả tang và khám xét thu giữ tổng cộng là: 0,0939g ma túy ở thể rắn, loại Heroin cùng hai lần mua bán vào các ngày 18/7/2023 và 19/7/2023, N n b cáo Phan Văn M đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy , tội phạm và hình phạt quy đ nh tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở l n .

Hành vi phạm tội của b cáo Phan Văn M là rất nghi m trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, là nguy n nhân làm gia tăng các loại tội phạm về ma túy và tệ nạn xã hội, gây mất trật tự tr an xã hội tại đ a phương. B cáo là người có đầy đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng với động cơ tư lợi bất chính, vẫn bất chấp sự nghi m cấm của Nhà nước để cố ý phạm tội. Để đảm bảo tính nghi m minh của pháp luật, về hình phạt đặt ra phải nghi m cần có thời gian đủ dài cách ly xã hội mới có tác dụng của hình phạt, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nhằm tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: B cáo là người cao tuổi, có hoàn cảnh gia đình khó khăn n n không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với b cáo.

Quá trình điều tra và tại phi n tòa, có căn cứ xác đ nh b cáo thu lợi bất chính số tiền 1000.000 (một triệu) đồng n n buộc b cáo nộp lại sung vào ngân sách Nhà nước.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

3.1 Về tình tiết tăng nặng trách hình sự: B cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

3.2 Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: hi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét: B cáo phạm tội lần đầu, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; trong giai đoạn điều tra và tại phi n tòa, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình để xem xét giảm nhẹ cho b cáo một phần hình phạt đáng ra phải ch u theo quy đ nh tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4]. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn truy tố để xét xử đối với b cáo Phan Văn M về tội danh, khung hình phạt và điều luật truy tố đã viện dẫn là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai; mức hình phạt đề ngh xử phạt đối với b cáo là có căn cứ n n được chấp nhận.

[5] Về xử lý vật chứng:

5.1 Vật chứng là ma túy thu giữ của b cáo còn lại sau giám đ nh là chất độc hại cấm tuyệt đối sử dụng n n t ch thu ti u hủy toàn bộ. Cụ thể, gồm:

- 01 (một) gói ni m phong ghi vụ 1567/23 (7885), b n ngoài có dấu vân tay màu đỏ ghi t n Phan Văn M (người b bắt) và hình dấu Công an xã B, huyện H b n trong là ma túy còn lại sau giám đ nh.

5.2 Đối với số điện thoại di động và tài sản thu giữ còn lại trong vụ án: Qua điều tra là tài sản cá nhân dùng làm phương tiện li n lạc và công cụ để phạm tội n n t ch thu sung ngân sách Nhà nước; Cụ thể như sau:

- 01(một) điện thoại di động hiệu ACE đã qua sử dụng;

- 01(một) điện thoại di động đã qua sử dụng;

- Tiền việt nam: 520.000 (năm trăm hai mươi nghìn) đồng.

- Đối với 01 (một) xe gắn máy biển số: 79 2-9566; có số máy: VTMDA152FMHA-001619; số khung: RRTVCHCCX61002029. Qua xác minh chủ sở hữu là Nguyễn Thành T1 (SN 1982, đ a chỉ: T, Cam Hải T2, Cam R) mua năm 2006. Đến 2013 bán cho một người không rõ lai l ch, không làm giấy tờ mua bán, ông T1 không có y u cầu gì. B cáo Phan Văn M khai xe máy trên là do vợ là Trần Th Mỹ 1 mua để M chạy xe ôm. Bà Trần Th Mỹ 1 khai nhận mua xe máy tại cửa hàng xe máy cũ tại khu vực A ( hông rõ t n của hàng, đ a chỉ). hi mua không làm giấy tờ mua bán. Việc M lấy xe đi giao ma túy thì L1 không biết. Do chiếc xe này bà L1 không có giấy tờ hợp pháp để chứng minh chủ sở hữu đồng thời b cáo là chồng của bà L1 dùng chiếc xe tr n làm phương tiện phạm tội (đi giao nhận, mua bán ma túy) n n cần giao cho Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hóc Môn thông báo tr n phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 01 (một) năm để tìm chủ sở hữu, hết thời hạn tr n không có ai đến nhận thì t ch thu nộp ngân sách Nhà nước.

(Vật chứng theo Bi n bản giao, nhận đồ vật tài liệu, vật chứng ngày 27/02/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn).

Đối với Trần Ngọc T là người nghiện, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện H đã giao T cho Công an xã B xử lý theo quy đ nh, là có cơ sở.

Đối với đối tượng bán ma túy cho M, do không xác đ nh được nhân thân lai l ch n n chưa có cơ sở xử lý, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau, là phù hợp.

[6] Về nghĩa vụ ch u án phí: Tại phi n tòa b cáo trình bày hoàn cảnh gia đình b cáo khó khăn, bản thân đang b bệnh phải điều tr , b cáo là người cao tuổi. B cáo có làm đơn xin được miễn án phí hình sự đối với b cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, b cáo có hoàn cảnh khó khăn, là người cao tuổi n n căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 của Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, b cáo thuộc diện được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Do đó xét miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với b cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ vào Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ vào Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

1. Xử phạt: B cáo Phan Văn M 07 (bảy) năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy . Thời hạn tù tính từ ngày 19/7/2023.

Miễn hình phạt bổ sung cho b cáo.

Buộc b cáo nộp lại số tiền 1000.000 (một triệu) đồng, tiền thu lợi bất chính sung vào ngân sách Nhà nước.

2. Xử lý vật chứng:

2.1 T ch thu ti u hủy:

- 01 (một) gói ni m phong ghi vụ 1567/23 (7885), b n ngoài có dấu vân tay màu đỏ ghi t n Phan Văn M (người b bắt) và hình dấu Công an xã B, huyện H b n trong là ma túy còn lại sau giám đ nh.

2.2 T ch thu sung vào ngân sách Nhà nước:

- 01(một) điện thoại di động hiệu ACE đã qua sử dụng;

- 01(một) điện thoại di động đã qua sử dụng;

- Tiền việt nam: 520.000 (năm trăm hai mươi nghìn) đồng.

- Giao cho Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hóc Môn, thông báo tr n phương tiện thông tín đại chúng trong thời hạn 01 (một) năm để tìm chủ sở hữu hợp pháp của: 01 (một) xe gắn máy biển số: 79 2-9566; có số máy: VTMDA152FMHA-001619; số khung: RRTVCHCCX61002029, hết thời hạn tr n không có ai đến nhận thì t ch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.

(Vật chứng n u tr n hiện đang giữ tại kho vật chứng thuộc Chi cục thi hành án dân sự huyện Hóc Môn theo Quyết đ nh chuyển vật chứng số 76/QĐ-VKS-HS ngày 26/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn và bi n bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 27/02/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn).

3. n phí: B cáo Phan Văn M được miễn án phí hình sự sở thẩm.

4. B cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuy n án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan đến vụ án vắng mặt tại phi n tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được ni m yết theo quy đ nh của pháp luật.

5. Trường hợp bản án, quyết đ nh được thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 uật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền y u cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các Điều 6, 7 và 9 uật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đ nh tại Điều 30 uật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ