vanban.org

Bản án 75/2024/HS-PT — Hình sự

TAND TP Đà Nẵng Tuyên án 09/04/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 09/04/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân Thanh T; Giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân Thanh T 15 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt giam thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân Thanh T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân Thanh T; Giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2024/ HS-PT
Ngày: 09/04/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Bùi Trọng Danh

Các thẩm phán:

Ông Nguyễn Anh Tuấn

Ông Trần Hữu Vinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Lương Hồng Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 04 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 61/2024/TLPT-HS ngày 04 tháng 03 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Xuân Thanh T có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2024/HS-ST ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Sơn T thành phố Đà Nẵng.

Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Xuân Thanh T; Tên gọi khác: Không, sinh ngày 28 tháng 07 năm 1993, tại Đà Nẵng; Nơi thường trú: Số 55 An C 1 tổ 106, phường An Hải B, quận Sơn T, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Thợ cắt tóc; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Xuân T (1961) và bà Trương Thị T (1961), gia đình có 05 người con, bị cáo là con út (03 người con đầu là cùng cha khác mẹ với bị cáo), có vợ là Lê Thị Kim D (đã ly hôn), có 02 con (lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2017).Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

ơ

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 25/07/2023, sau khi uống bia cùng gia đình Nguyễn Xuân Thanh T (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô BKS: 43F1-187.31 đi trên đường Trần Hưng Đ, theo hướng đường Trần Hưng Đ, theo hướng Sơn T - Non N với tốc độ khoảng 30-40 km/h. Khi cách ngã ba giao nhau với đường An Đ (thuộc phường An Hải B, quận Sơn T) khoảng hơn 10m, T bật xi nhan bên trái và cho xe chuyển hướng sang phần đường của chiều ngược lại để rẽ trái về đường An Đ. Do không chú ý quan sát phía trước nên T không nhìn thấy xe mô tô BKS 43E1-361.97 do anh Huỳnh Văn D điều khiển chở sau anh Trương Văn H đang đi phần đường chiều ngược lại. Nên khi xe T cách xe của anh D khoảng 5m thì T mới nhìn thấy xe anh D. Lúc này, T không kịp xử lý tránh nên đã va chạm với xe của anh D làm 02 xe và người ngã xuống đường. Sau đó, T và anh D được đưa đến bệnh viện Đà Nẵng cấp cứu, đến ngày 04/8/2023 thì anh D tử vong. Anh Trương Văn H bị xây xát nhẹ.

Tang vật tạm giữ:

- Xe mô tô BKS: 43F1-187.31.

- Xe mô tô BKS: 43E1-361.97.

Cơ quan CSĐT Công an quận Sơn T đã trả lại xe mô tô BKS: 43E1-361.97 cho ông Huỳnh Văn Q (bố ruột của Huỳnh Văn D); còn xe mô tô BKS: 43F1-187.31 hiện chưa xác định được chủ sở hữu nên cơ quan CSĐT Công an quận Sơn T tách ra tiếp tục xác minh xử lý sau.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2024/HS-ST ngày 23/01/2024 của Tòa án nhân dân quận Sơn T, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân Thanh T 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Bản án sơ thẩm còn quyết định về phần hình phạt bổ sung, án phí và thông báo quyền kháng cáo.

Ngày 01/02/2024, bị cáo Nguyễn Xuân Thanh T có đơn kháng cáo với nội dung: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Xuân Thanh T đã thừa nhận hành vi phạm tội, bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

Về thủ tục: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân Thanh T có đầy đủ nội dung theo thủ tục kháng cáo và trong thời hạn nên đảm bảo hợp lệ.

Về nội dung kháng cáo: Đại diện Viện kiểm sát cho rằng Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2024/HS-ST ngày 23/01/2024 của Tòa án nhân dân quận Sơn T, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự 2015, là có căn cứ, đúng pháp luật. Cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo khi lượng hình và xử phạt bị cáo 15 tháng tù là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm thì bị cáo không có thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới. Vì vậy, đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được hành vi sai pháp luật của bị cáo, mong HĐXX xem xét về hoàn cảnh gia đình cho bị cáo mức án nhje nhất để có thể về chăm lo cho các con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Xuân Thanh T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, nên HĐXX có cơ sở khẳng định:

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 25/07/2023, Nguyễn Xuân Thanh T điều khiển xe mô tô BKS 43F1-187.31 lưu thông trên đường nhưng không chú ý quan sát phía trước khi cho xe chuyển hướng đồng thời T chuyển hướng không đúng nơi quy định và không nhường đường cho xe chiều ngược lại nên gây ra vụ tai nạn giao thông làm anh Huỳnh Văn D tử vong. Lúc này Nguyễn Xuân Thanh T đang trong tình trạng trong máu có nồng độ cồn 264mg/100ml máu.

Vì vậy bản án hình sự sơ thẩm số 04/2024/HS-ST ngày 23/01/2024 của Tòa án nhân dân quận Sơn T, TP phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân Thanh T, HĐXX thấy rằng: Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ và gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Tại thời điểm phạm tội bị cáo đang trong tình trạng trong máu có nống độ cồn 264 mg/100 ml máu, đây là tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 BLHS. Vì vậy đối với bị cáo cần phải xử lý một cách nghiêm minh. Bị hại cũng có một phần lỗi khi tham gia giao thông khi không có bằng lái xe, trong người có nồng độ cồn là 249 mg/100ml máu. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt tù dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo là cần thiết để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo 15 tháng tù là phù hợp, không nặng và cần thiết. Trong giai đoạn phúc thẩm, gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên, HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân Thanh T; Giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân Thanh T 15 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt giam thi hành án.

3. Về án phí: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội;

Bị cáo Nguyễn Xuân Thanh T chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ