- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Bế Ngọc H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bế Ngọc H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 75/2023/HSST Ngày: 06/6/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hanh
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thanh Vũ
2. Ông Nông Văn Vụ
Thư ký phiên tòa: Ông Lục Đức Long - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trường Long - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2023/TLST- HS ngày 12 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2023/QĐXXST- HS ngày 25/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đối với bị cáo:
Họ và tên: Bế Ngọc H, tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; sinh ngày 23 tháng 01 năm 1988 tại thành phố Cao Bằng; HKTT và chỗ ở hiện nay: tổ 14, phường T, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Con ông: Bế Kim H (đã chết); con bà: Hoàng Thị Đ - sinh năm 1966 (trú tại: tổ 14, phường T, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng); Vợ: Đàm Thị N (đã ly hôn); con: có 01 con sinh năm 2015; Anh, chị, em ruột: có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Tiền sự: Không; Tiền án: Có 01 tiền án: Ngày 27/12/2019 bị Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng xử phạt 30 (ba mươi) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng từ ngày 16/12/2022 đến ngày 23/12/2022 được thay thế biên pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường Tân Giang, thành phố Cao Bằng đến nay; Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do bản thân sử dụng ma túy nên khoảng 10 giờ 45 phút ngày 16/12/2022, H đi bộ từ nhà đến khu vực cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng thuộc phường T, thành phố Cao Bằng tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, H gặp một người đàn ông lạ mặt dáng giống người nghiện nên hỏi mua 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) Heroine. Người đàn ông đồng ý, nhận tiền rồi đi khoảng 10 phút sau quay lại đưa cho H 03 (ba) gói nhỏ giấy bạc màu vàng bên trong có chứa Heroine. Sau khi mua được Heroine, H cất vào túi phía trước bên phải chiếc quần đang mặc rồi đi về nhà, vào hồi 11 giờ 00 phút khi đi đến khu vực tổ 14, phường T, thành phố Cao Bằng thì H bị tổ công tác Công an phường Duyệt Trung phát hiện và bắt quả tang có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ: 03 (ba) gói giấy bạc màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột thu giữ trong túi quần phía trước bên phải của H có khối lượng 0,14g (không phẩy mười bốn gam), H khai là Heroine mua tại khu vực cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng để sử dụng cho bản thân.
Ngày 17/12/2022, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng ra Quyết định trưng cầu giám định số 03 đối với vật chứng của vụ án. Tại Bản kết luận giám định số 07/KL-KTHS ngày 23/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: Mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Heroine.
Tại bản Cáo trạng số: 68/CT-VKSTP ngày 12/4/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Bế Ngọc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhất trí với trọng lượng ma túy bị thu giữ và kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Bế Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Đề nghị xử phạt bị cáo từ 18 đến 21 tháng tù, trừ 08 (tám) ngày tạm giữ. Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi số 07/KL-KTHS, hoàn mẫu sau giám định vụ Bế Ngọc H tàng trữ trái phép chất ma túy.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm với số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) để sung quỹ nhà nước.
Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng.
Khi được nói lời sau cùng, bị cáo không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên thu thập về hành vi, quyết định tố tụng của của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội và điều khoản xét xử: Tại cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung, vật chứng đã thu giữ; kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được thể hiện trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: Hồi 11 giờ 00 phút ngày 16/12/2022 tại tổ 14, phường T, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng, tổ công tác Công an phường Duyệt Trung, thành phố Cao Bằng phát hiện, bắt quả tang Bế Ngọc H có hành vi tàng trữ trái phép 0,14g (không phẩy mười bốn gam) ma túy loại Heroine, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại nhiều mặt của ma túy, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích thỏa mãn cơn nghiện cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất gây nghiện. Như vậy, hành vi của bị cáo Bế Ngọc H đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo là người có nhân thân xấu, có 01 tiền án chưa được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân để tự phấn đấu rèn luyện mình, cai nghiện ma túy để trở thành công dân tốt mà lại tiếp tục lún sâu vào con đường phạm tội chỉ vì ham chơi, đua đòi và thỏa mãn nhu cầu nghiện ma túy của bản thân.
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo có 01 (một) tiền án: Ngày 27/12/2019 bị Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng xử phạt 30 (ba mươi) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích lại phạm tội mới với lỗi cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt chính: Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả do hành vi bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Hội đồng xét xử xét thấy: Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình trật tự trị an trên địa bàn thành phố, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh nhiều tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Bị cáo thực hiện hành vi thuộc trường hợp tái phạm, điều này cho thấy bị cáo không có ý thức tự cải tạo bản thân nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Việc áp dụng hình phạt trên mức khởi điểm của khung hình phạt đối với bị cáo là phù hợp và tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về việc xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Đối với 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi số 07/KL-KTHS, hoàn mẫu sau giám định vụ Bế Ngọc H tàng trữ trái phép chất ma túy. Xét thấy đây là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, Bế Ngọc H khai nhận được mua với một người đàn ông không quen biết tại khu vực cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng, việc mua bán không ai biết và chứng kiến nên cơ quan điều tra không có đủ căn cứ để xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật.
Các ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa về tội danh, hình phạt là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Bế Ngọc H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Bế Ngọc H 18 (mười tám) tháng tù và được trừ vào thời gian tạm giữ từ ngày 16/12/2022 đến ngày 23/12/2022 (08 ngày). Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án phạt tù.
2. Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, xử:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi số 07/KL-KTHS, hoàn mẫu sau giám định vụ Bế Ngọc H tàng trữ trái phép chất ma túy. Mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong cùng con dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng. (Có kết luận giám định ma túy số 07/KL-KTHS ngày 23/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng).
Xác nhận số vật chứng này hiện nay đang nằm tại kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản bàn giao vật chứng số 93 ngày 04/5/2023.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Buộc bị cáo Bế Ngọc H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -Tòa án tỉnh Cao Bằng; - Công an tỉnh Cao Bằng; - Viện kiểm sát tỉnh Cao Bằng; - Viện kiểm sát TP Cao Bằng; - Công an TP Cao Bằng; - Thi hành án DS TP Cao Bằng; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hanh |