- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Đình Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Tuyên bố bị cáo Lường Đình Đán phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 75/2023/HSST Ngày: 19/7/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN – TỈNH BẮC KẠN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Dương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hứa Đình Hiên.
Ông Vũ Anh Đức.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Hà Sĩ Cách – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Phùng Thị Thêu - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2023, tại hội trường xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 75/2023/HSST ngày 29/6/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Lƣờng Đình Đ (tên gọi khác: Không), sinh ngày 16 tháng 3 năm 1974 tại tỉnh Bắc Kạn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ Đ1 – Kh, phường H, thành phố B, tỉnh B1; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam – đã đình chỉ sinh hoạt đảng; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lường Văn T (đã chết) và bà Đinh Thị Nh; có vợ là Hà Thị Th và có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2020); tiền sự: Không; tiền án: Không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/3/2023 đến ngày 17/3/2023, hiện nay đang tại ngoại. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 00 phút ngày 09/3/2023, tại khu vực tổ 12, phường Ng, thành phố B, tỉnh B1, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Ma túy Công an thành phố B, tỉnh B1 bắt quả tang Lường Đình Đ có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Kết quả kiểm tra đã phát hiện và tạm giữ: Trong túi quần bên trái đằng trước Lường Đình Đ đang mặc 01 (một) gói giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng lẫn màu hồng (niêm phong trong phong bì ký hiệu M1). Ngoài ra không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài sản gì khác.
Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lường Đình Đ tại Tổ Đ1 – Kh, phường H, thành phố B, tỉnh B1. Qua khám xét không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến ma túy.
Lường Đình Đ khai nhận: Toàn bộ số chất bột màu trắng lẫn màu hồng có trong 01 (một) gói giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng Cơ quan điều tra thu giữ tại túi quần Đ đang mặc là ma túy của Đ tàng trữ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Về nguồn gốc số ma túy Lường Đình Đ khai: Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 09/3/2023, Đán đi bộ từ nhà tại tổ Đ - Kh, phường H đến khu vực cổng Bệnh viện Đa khoa tỉnh B1 thuộc tổ 12, phường Ng, thành phố B để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi, Đ gặp một người đàn ông qua nói chuyện Đ biết người này tên là T1 (không rõ họ, tên đệm, tuổi, địa chỉ cụ thể) có ma túy bán nên Đ đã hỏi mua trực tiếp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) mua ma túy loại Heroine thì được người này đồng ý bán, sau khi Đ đưa tiền thì người đàn ông đã đưa lại cho Đ 01 (một) gói ma tuý được gói trong giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng. Sau khi mua được ma túy, Đ cất giấu ma tuý vào trong túi quần bên trái, đằng trước đang mặc rồi đi tìm nơi để sử dụng, khi đi đến khu vực tổ 12, phường Ng, thành phố B thì bị tổ công tác của Công an thành phố B phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số ma túy.
Tiến hành cân riêng số chất bột màu trắng thu giữ của Lường Đình Đ trong phong bì ký hiệu M1 có tổng khối lượng là 0,19g (không phẩy một chín gam). Sau khi cân niêm phong toàn bộ số chất bột màu trắng lẫn màu hồng vào phong bì ký hiệu A1 gửi giám định, phong bì bao gói cũ niêm phong vào phong bì ký hiệu A2 bảo quản theo quy định.
Tại kết luận giám định số 93/KL - KTHS ngày 17/3/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: “- Mẫu chất bột màu trắng lẫn màu hồng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là ma tuý, loại Heroine (Heroin) có tên khoa học là Diacetylmorphine và loại Methamphetamine được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.
- Mẫu chất bột màu trắng lẫn màu hồng trong phong bì ký hiệu A1 có khối lượng là: 0,19g (không phẩy một chín gam)”. Sau giám định, mẫu chất trong phong bì ký hiệu A1 còn lại 0,15g (không phẩy một năm gam) cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T55 hoàn trả lại cho cơ quan trưng cầu.
Tại bản cáo trạng số 50/CT-VKSTP ngày 28/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố đối với Lường Đình Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Điều luật có nội dung:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
......
c, Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR- 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
…
i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.”
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Tại phiên tòa:
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s, v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 09/3/2023 đến ngày 17/3/2023.
Hình phạt bổ sung đề nghị không áp dụng.
Về xử lý vật chứng đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T55; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu A2.
Về án phí: Đề nghị miễn án hình sự theo quy định của pháp luật cho bị cáo.
* Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo là không oan, đúng người, đúng tội và xin hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân và Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi bị truy tố của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo thống nhất với các lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có cơ sở khẳng định:
Hồi 10 giờ 00 phút ngày 09/3/2023, tại khu vực tổ 12, phường N, thành phố B tỉnh B1, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Ma túy Công an thành phố B bắt quả tang Lường Đình Đ có hành vi tàng trữ trái phép 0,19g (không phẩy một chín gam) ma túy, loại Heroine và Methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do vậy, việc truy tố, xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương, vì vậy cần phải xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Hội đồng xét xử thấy:
Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đã được tặng Giấy khen do có thành tích xuất sắc trong công tác xây dựng lực lượng Dân quân tự vệ nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
* Về hình phạt bổ sung: Bị cáo cáo thuộc diện cận nghèo, không có tài sản, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung "Phạt tiền” theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T55, mặt trước phong bì có dòng chữ: “Mẫu hoàn trả vụ Lường Đình Đ (1974) tàng trữ trái phép chất ma túy”, mặt sau phong bì có 04 (bốn) chữ ký không đọc được và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B1. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu A2, mặt sau phong bì có 07 (bẩy) chữ ký không đọc được, 01 (một) dòng chữ “Lường Đình Đ” và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thành phố B, tỉnh B1. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn. Tất cả không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
* Trong vụ án này còn có người đàn ông tên T1 đã bán ma túy cho Lường Đình Đ, nhưng do Đán không biết họ tên đệm, địa chỉ cụ thể nên cơ quan điều tra không đủ cơ sở để xác minh, làm rõ.
* Về án phí: Bị cáo thuộc diện cận nghèo và có đơn xin miễm tiền án phí hình sự theo quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
* Tuyên bố bị cáo Lường Đình Đán phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
* Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s, v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Lường Đình Đ 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 09/3/2023 đến ngày 17/3/2023.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T55, mặt trước phong bì có dòng chữ: “Mẫu hoàn trả vụ Lường Đình Đ (1974) tàng trữ trái phép chất ma túy”, mặt sau phong bì có 04 (bốn) chữ ký không đọc được và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B1. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu A2, mặt sau phong bì có 07 (bẩy) chữ ký không đọc được, 01 (một) dòng chữ “Lường Đình Đ”, và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thành phố B, tỉnh B1. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn.
Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận giữa Công an thành phố Bắc Kạn và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn.
* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Miễm tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lường Đình Đ
* Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - VKSND thành phố; - Cơ quan CSĐT Công an thành phố; - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố; - Chi cục THADS thành phố; - Sở tư pháp; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Dƣơng |