vanban.org

Bản án 75/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 28/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Dương Đức Ng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Dương Đức Ng 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 27 tháng 02 năm 2023). Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./ Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Đức Ng - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dương Đức Ng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VĨNH YÊN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2023/HS-ST
Ngày 28-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đặng Phú Lâm

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga

Bà Vũ Thị Kim Dung

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy Vân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên tham gia phiên toà: Ông Trịnh Duy Tám - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2023, tại nhà văn hóa Đồng Khâu, phường Tích Sơn, thành phố Vĩnh Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 67/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Dương Đức Ng, sinh ngày 10 tháng 9 năm 1988 tại Vĩnh Phúc; hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố D, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn M (đã chết) và bà Lưu Thị Th; có vợ là Đàm Thị Thanh T và có 02 con; tiền sự: Không.

Tiền án: 01 tiền án, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 126/2020/HSST ngày 03/09/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên xử phạt Dương Đức Ng 02 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2022, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm vào tháng 11/2020. Đến nay chưa được xóa án tích.

- Nhân thân:

+ Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2009/HSST ngày 16/02/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên xử phạt Dương Đức Ng 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 7.920.000đ), án phí hình sự sơ thẩm và tiền truy thu tổng cộng là 740.000đ. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/08/2009, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm và tiền truy thu vào ngày 15/07/2013.

+ Tại quyết định số 232/QĐ – UBND ngày 24/01/2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Vĩnh Yên buộc Dương Đức Ng đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Giáo dục – Lao động xã hội tỉnh Vĩnh Phúc. Tuy nhiên, sau đó Ng bị tai nạn giao thông phải đi điều trị và chưa chấp hành quyết định trên, cơ quan công an đã xác minh trong quá trình điều trị Ng không có hành vi vi phạm gì, do vậy tính đến ngày 27/02/2023, Ng được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/02/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt).

- Người chứng kiến: Ông Trần Văn Q, sinh năm 1960; trú tại: Tổ dân phố Tr, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 45 ngày 27/02/2023, Dương Đức Ng (là đối tượng nghiện ma túy) ở nhà thì nảy sinh ý định đi mua ma túy loại Heroine để sử dụng cho bản thân. Sau đó, Ng một mình đi bộ đến khu vực cổng trường Tiểu học Kim Ng thuộc phường Đ, thành phố Vĩnh Yên để tìm mua ma túy. Tại đây, Ng gặp một người nam giới (Ng không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ của người này). Qua nói chuyện, Ng biết người này bán ma túy nên hỏi và mua được 01 gói ma túy loại Heroine với giá 250.000đ. Sau khi mua được ma túy, Ng cầm gói ma túy vừa mua được ở tay phải rồi đi bộ tìm nơi sử dụng ma túy. Khi Ng đi bộ đến khu vực ngõ 19, phường Đ, thành phố Vĩnh Yên thì bị Tổ công tác Công an phường Đ, thành phố Vĩnh Yên, kiểm tra hành chính phát hiện, thu giữ tại lòng bàn tay phải của Ng 01 gói giấy nhỏ bên trong chứa chất bột màu trắng, Ng khai đó là gói ma tuý (Heroine) vừa mua với giá 250.000đ để sử dụng cho bản thân, được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu A1. Công an phường Đ chuyển đối tượng Ng cùng hồ sơ vụ việc và vật chứng có liên quan đến cơ quan CSĐT Công an thành phố Vĩnh Yên để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại bản Kết luận giám định số 486/KL-GĐ ngày 02/03/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: Chất cục, bột màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng là 0,2113 gam (Không phảy hai một một ba gam, không kể bao bì), loại Heroine. Hoàn lại mẫu vật còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu gồm: A1= 0,1851 gam mẫu và toàn bộ bao gói, được niêm phong trong cùng một bao gói giấy “Mẫu trả”, trên giáp lai có chữ ký của người giám định và hình dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự. Cơ quan điều tra đã thông báo kết quả giám định cho Dương Đức Ng biết. Bị cáo không có ý kiến thắc mắc, hay khiếu nại gì.

Tại Cáo trạng số 77/CT-VKSTPVY ngày 08/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên truy tố Dương Đức Ng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Dương Đức Ng khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng truy tố.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày luận tội đối với bị cáo; giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo từ 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng đến 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù. Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử được thực hiện đầy đủ, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Dương Đức Ng đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ được, Kết luận giám định, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 9 giờ 30 phút ngày 27/02/2023, tại khu vực ngõ 19 đường Trần Quốc Tuấn, phường Đ, thành phố Vĩnh Yên, Tổ công tác Công an phường Đ, thành phố Vĩnh Yên, làm nhiệm vụ trên địa bàn thì phát hiện Dương Đức Ng có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, mục đích để sử dụng cho bản thân. Thu giữ của Ng 01 gói giấy nhỏ chứa chất cục bột màu trắng, qua giám định là ma túy có khối lượng 0,2113 gam, loại Heroine.

Hành vi nêu trên của Dương Đức Ng đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), nội dung điều luật quy định:

"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, … có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.

Xét nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự là quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền án, chưa được xóa án tích, lại phạm tội do cố ý, nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân xấu, năm 2009 bị Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên xử phạt 01 năm tù về tội “trộm cắp tài sản”; năm 2013 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Vĩnh Yên quyết định áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Giáo dục – Lao động xã hội tỉnh Vĩnh Phúc.

Hành vi phạm tội của bị cáo là một trong những nguyên nhân gây nên các tệ nạn xã hội và tội phạm, do đó cần áp dụng mức hình phạt tù nghiêm khắc, tương xứng với hành vi của bị cáo, như đề nghị của Viện kiểm sát mới có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa làm rõ bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đối với 0,1851 gam ma túy, loại Heroine và toàn bộ bao gói được niêm phong trong một bao gói giấy “MẪU TRẢ” còn lại sau giám định, là vật Nhà nước cấm lưu thông và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về vấn đề khác: Đối với người nam giới đã bán ma túy cho Ng, bản thân Ng khai không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại Công an phường Đ theo nội dung Ng khai báo, nhưng chưa xác định được đối tượng. Ngoài lời khai của Ng không có căn cứ nào khác xác định chính xác về đối tượng đã bán ma tuý cho Ng ngày 27/02/2023. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, nếu có căn cứ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Dương Đức Ng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt Dương Đức Ng 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 27 tháng 02 năm 2023).

Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu, tiêu huỷ 0,1851 gam ma túy, loại Heroine và toàn bộ bao gói được niêm phong trong một bao gói giấy “MẪU TRẢ” còn lại sau giám định (đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 27 tháng 6 năm 2023 giữa Công an thành phố Vĩnh Yên và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc).

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Dương Đức Ng phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./

Cỡ chữ