- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 75/2023/HS-ST Ngày: 22/6/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S.D, TỈNH T.Q
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Minh Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Hữu Lượng.
2. Ông Nguyễn Minh Hùng.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện S.D.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S.D tham gia phiên toà: Ông Phạm Tất Lợi - Kiểm sát viên.
Ngày 22/6/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện S.D và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh T.Q mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 66/2023/TLST-HS, ngày 08 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2023/QĐXXST-HS, ngày 08 tháng 6 năm 2023, đối với bị cáo:
N.V.D, sinh ngày 10/6/1968. Nơi ĐKHKTT: Thôn 2a, xã Ea H’leo, huyện Ea H’leo, tỉnh Đắc Lắk. Chỗ ở: Thôn K.R, xã P.U, huyện S.D, tỉnh T.Q; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 3/10; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: N.V.T và bà D.T.N (đều đã chết); vợ: T.T.H, sinh năm 1971; Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1989, con nhỏ nhất sinh năm 1995; Anh chị em ruột: Có 09 người, bị cáo là con thứ 7; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2008/HSST ngày 04/3/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắc Lắk xử phạt N.V.D 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 07 năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung là 14 năm tù, truy thu số tiền 1.020.000đ, án phí HSST 50.000đ. Ngày 23/02/2018 Doanh chấp hành xong hình phạt tù, ngày 20/8/2008 Doanh chấp hành xong phần dân sự của bản án.
- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 15444/QĐ-XPHC ngày 13/10/2021 của Công an huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt N.V.D 1.500.000đ về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 13/10/2021 Doanh đã chấp hành xong.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/12/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.Q (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 09/12/2022, N.V.D là người sử dụng chất ma túy, một mình điều khiển xe mô tô biển số 20F1 - 102.62 từ khu phòng trọ của Doanh thuộc thôn Khuôn Ráng, xã Phúc Ứng, huyện S.D, tỉnh T.Q đến khu vực thị trấn Đại Từ, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tìm mua heroine về sử dụng cho bản thân và bán cho người khác kiếm lời, khi đến nơi Doanh gặp và mua của một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ 2.000.000đ được 01 túi heroine bên ngoài được gói bằng túi nilon mầu xanh, sau đó Doanh cất giấu gói heroine vừa mua được trong người và điều khiển xe mô tô đi về phòng trọ của Doanh lấy một ít heroine trong gói vừa mua được sử dụng, số heroine còn lại Doanh gói lại như cũ và cất giấu trong người.
Khoảng 09 giờ ngày 13/12/2022, Vũ Duy Tuấn, sinh năm 1958, trú tại: Tổ dân phố Tân Phú, TT. S.D, huyện S.D, tỉnh T.Q sử dụng số điện thoại 0399.628.707 gọi đến số điện thoại 0977.819.247 của Doanh hỏi mua 1.000.000đ heroine. Doanh đồng ý và hẹn Tuấn đến khu vực bờ hồ thuộc tổ dân phố Bắc Lũng, TT. S.D, huyện S.D để mua bán. Sau đó Doanh rủ Lương Văn Chung, sinh năm 1979, trú tại thôn Đá Cả, xã Phúc Ứng, huyện S.D cùng đi lên thị trấn S.D uống nước (Chung không biết Doanh đi bán heroine), khi Chung điều khiển xe mô tô biển số 20F1 - 102.62 chở Doanh đến khu vực tổ dân phố Bắc Hoàng, thị trấn S.D thì bị Tổ công tác đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện S.D kiểm tra phát hiện yêu cầu về trụ sở Công an TT. S.D, huyện S.D làm việc và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 10 giờ 45 phút cùng ngày, Doanh tự giác lấy 01 túi nilon màu xanh bên trong có chứa heroine để trong túi quần bên trái đang mặc giao nộp cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S.D.
Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy bên trong cơ thể N.V.D, kết quả (+) dương tính, có chất ma túy trong cơ thể.
Kết luận giám định số 1549/KL-KTHS ngày 17/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T.Q. Kết luận: Số chất bột màu trắng (thu giữ của N.V.D) gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng 1,874 gam (một phẩy tám bảy tư gam).
Tại Cáo trạng số 73/CT-VKSSD, ngày 08/5/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện S.D đã truy tố N.V.D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:
- Tuyên bố: Bị cáo N.V.D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo N.V.D từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (13/12/2022).
Do bị cáo không có tài sản có giá trị lớn nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định) mặt sau trên các mép dán có chữ ký của N.V.D, các thành phần tham gia và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T.Q.
Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại nhãn hiệu NOKIA 105, bên trong có lắp sim điện thoại số 0977.819.247 và số tiền 1.000.000đ; 01 xe mô tô biển số 20F1 - 102.62. Nhưng giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.
- Về án phí, quyền kháng cáo: Buộc bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo của bị cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.
Về tội danh: Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa; căn cứ vào Biên bản khám xét, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 10 giờ 45 phút ngày 13/12/2022, tại khu vực tổ dân phố Bắc Hoàng, TT. S.D, huyện S.D. N.V.D đã có hành vi tàng trữ 1,874g (một phẩy tám bảy tư gam) heroine, mục đích để bán cho Vũ Duy Tuấn, sinh năm 1958, trú tại tổ dân phố Tân Phú, thị trấn S.D, huyện S.D. Khi Doanh đang trên đường mang heroine đến điểm hẹn để bán cho Tuấn thì bị Tổ công tác Công an huyện S.D phát hiện yêu cầu về trụ sở Công an thị trấn S.D làm việc và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện S.D truy tố N.V.D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Bị cáo là người nghiện ma túy và thực hiện việc mua bán trái phép chất ma túy cho đối tượng nghiện, gây mất an ninh trật tự tại địa phương và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do vậy, cần phải có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.
Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đường lối xử lý đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắc Lắk xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 07 năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung là 14 năm tù, truy thu số tiền 1.020.000đ, án phí HSST 50.000đ. Ngày 23/02/2018 Doanh chấp hành xong hình phạt tù, ngày 20/8/2008 Doanh chấp hành xong phần dân sự của bản án; Ngày 13/10/2022 Công an huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt N.V.D 1.500.000đ về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 13/10/2021 Doanh đã chấp hành xong.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, bị cáo có bố đẻ là Nguyễn Văn Tước được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì, bố đẻ và mẹ đẻ được tặng Bảng vàng danh dự, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên, Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo trong mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị như vậy là phù hợp.
Quá trình điều tra xác định bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Về vật chứng: Đối với 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định) mặt sau trên các mép dán có chữ ký của N.V.D, các thành phần tham gia và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T.Q. Đây là vật chứng của vụ án thuộc danh mục Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
01 điện thoại nhãn hiệu NOKIA 105, bên trong có lắp sim điện thoại số 0977.819.247 và số tiền 1.000.000đ; 01 xe mô tô biển số 20F1 - 102.62 là tài sản của bị cáo và phương tiện sinh hoạt hàng ngày nên trả lại cho bị cáo. Nhưng giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.
Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo ngày 09/12/2022, do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để điều tra xử lý.
Về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo N.V.D vào ngày 09/12/2022. Công an huyện S.D đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Doanh (Quyết định số 26/QĐ-XPHC, ngày 18/01/2023, số tiền 1.500.000đ).
Đối với Vũ Huy Tuấn người hỏi mua heroine của Doanh nhưng chưa mua được nên không đề cập xử lý.
Đối với Lương Văn Chung là người được Doanh nhờ điều khiển xe mô tô biển số 20F1-102.62 chở Doanh đến khu vực tổ dân phố Bắc Hoàng, thị trấn S.D nhưng không biết Doanh đi bán heroine nên không đề cập xử lý.
Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S.D, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện S.D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo N.V.D không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về án phí và quyền kháng cáo bản án:
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự; Các Điều 106, 136, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Tuyên bố: Bị cáo N.V.D phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo N.V.D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (13/12/2022).
2. Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì đã niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa ma túy (đã giám định), đặc điểm, tình trạng, khối lượng được miêu tả trong biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định. Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T.Q, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và N.V.D; mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ N.V.D giám định ngày 13/12/2022”.
Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại nhãn hiệu NOKIA 105, bên trong có lắp sim điện thoại số 0977.819.247; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave biển số 20F1 - 102.62 và 1.000.000đ (Một triệu đồng). Nhưng giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.
(Số tiền 1.000.000đ hiện đang trong tài khoản số 3949.0.1064844.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện S.D mở tại Kho bạc Nhà nước huyện S.D).
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11/5/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S.D và Chi cục Thi hành án dân sự huyện S.D)
3. Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm;
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Hữu Lượng - Nguyễn Minh Hùng
Hoàng Thị Minh Khánh
| Nơi nhận: - TAND tỉnh T.Q; - VKSND tỉnh T.Q; - Trại tạm giam Công an tỉnh TQ; - VKSND huyện S.D; - Công an huyện S.D; - Chi cục T.H.A dân sự huyện SD; - Bị cáo; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Minh Khánh |